Sài-gòn, 01/07/2019
Sunday, June 30, 2019
Saturday, June 29, 2019
Hiểu Về Niết Bàn
Niết Bàn là trạng thái tâm bất động giải thoát, chấm dứt phiền não nghiệp khổ luân hồi. Vậy tu tập như thế nào để có được trạng thái Niết Bàn? Dưới đây là những lời Đức Phật dạy trong Kinh Pháp Cú, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về Niết Bàn.
Người hằng tu thiền định
Thường kiên trì tinh tấn
Bậc trí hưởng Niết Bàn
Đạt an tịnh vô thượng.
📝 Người hằng tu thiền định chỉ cho hành giả siêng năng tu chánh niệm tỉnh giác, kiểm soát thân - khẩu - ý, và dùng pháp như lý tác ý để xả tâm phiền não tham - sân - si - mạn - nghi. Khi hết tham - sân - si - mạn - nghi thì chứng được tâm vô lậu Niết Bàn. ( Để hiểu rõ về cách thức tu tập diệt tham tham – sân – si - mạn – nghi, quý phật tử nghe thêm pháp thoại PHÁP HÀNH TỨ NIỆM XỨ ).
Trong Phẩm Không Phóng Dật, Phật dạy:
Tỳ kheo sợ phóng dật
Ưa thích không phóng dật
Nhất định gần Niết Bàn
Không còn bị đọa lạc.
📝 Phóng dật là trạng thái tâm bị dao động và phiền não. Ví dụ, khi nghe ai nói lời xúc phạm ta thì trong tâm mình cảm thấy khó chịu bực dọc, tâm khó chịu bực dọc thuộc về sân phóng dật.
Hoặc nghe người khác khen mình mà trong lòng thích thú vui mừng và mong được khen nữa, tâm đó thuộc về tham phóng dật.
Hoặc khi ta thành tựu điều gì tốt mà hay tự mãn khoe khoang, tâm đó là mạn phóng dật.
Tâm hay nghi kỵ, thiệt hơn, đúng sai, phải trái chuyện xấu tốt của mọi người xung quanh mình, tâm đó là nghi phóng dật.
Tu tập các pháp sai mà cho là đúng, hoặc tin theo những điều tà mà cho là chánh, tâm đó là si phóng dật.
Nếu hành giả tu tập đoạt diệt năm phóng dật phiền não tham - sân - si - mạn - nghi thì tâm chứng được vô lậu Niết Bàn, không còn bị đọa lạc sinh tử luân hồi. Vì vậy Đức Phật nói:
“Ta thành tựu Chánh Đẳng Giác là nhờ tâm không phóng dật, muôn pháp lành từ đó mà sinh”.
( Để hiểu rõ hơn về cách thức tu tập tâm không phóng dật, quý Phật tử nghe thêm pháp thoại KHÔNG PHÓNG DẬT BẤT TỬ ).
Khác thay duyên thế lợi
Khác thay đường Niết Bàn
Tỷ kheo, đệ tử Phật
Hãy như vậy thắng tri
Chớ ưa thích cung kính
Hãy tu hạnh viễn ly.
📝 Viễn ly là tâm không còn tham chấp lợi đắc, cung kính và danh vọng. Ai sống theo lợi đắc, cung kính và danh vọng thì tâm bị mất Niết Bàn. Cho nên, để tâm không bị mất Niết Bàn thì phải tu hạnh viễn ly.
Hãy cầu vui Niết Bàn
Bỏ dục, không nhiễm uế
Kẻ trí tự rửa sạch
Mọi cấu uế nội tâm.
📝 Tâm giống như miếng vải dơ bẩn, nếu chúng ta biết giặt sạch chúng thì chúng trở nên sạch sẽ và hữu dụng. Cũng vậy tâm chúng ta hàng ngày siêng năng tu tập, bỏ dần mọi tham đắm dục lạc (danh, lợi, sắc, thực, thùy) thì tâm ấy sẽ đạt được giải thoát Niết Bàn. (Quý Phật tử nghe thêm pháp thoại TÂM CẤU UẾ PHIỀN NÃO ).
Những ai thường chánh tâm
Tu tập pháp giác chi
Xa lìa mọi chấp trước
Hoan hỷ không nhiễm ái
Sẽ sống không lậu hoặc
Sáng chói, chứng Niết Bàn
Ngay trong đời hiện tại.
📝 Tham ái là trạng thái ưa thích dục lạc trong tâm. Ví dụ tâm mình còn tham chấp được người khác yêu quý mình, đó là tham ái. Tâm còn tham chấp ăn ngon, mặc đẹp, đó là tham ái... Hoặc khi ta đạt được thành công gì mà tâm còn tự mãn, vui thích khoe khoang, đó là tham ái. Hoặc một vị tu tập chứng đạt thiền định, tâm có khinh an hỷ lạc mà còn chấp thủ, khoe khoang, đó là tham ái… Để tâm không còn tham ái, Đức Phật dạy chúng ta hãy tu tập Bảy Pháp Giác Chi, hướng tâm đến Xả Giác Chi để xả ly tham ái, chứng ngộ Niết Bàn. ( Quý Phật tử nghe thêm pháp thoại PHÁP HÀNH BẢY GIÁC CHI và BỐN QUẢ CHỨNG THIỀN ĐỊNH ).
Một số sinh bào thai
Kẻ ác sinh địa ngục
Người thiện lên cõi trời
Vộ lậu chứng Niết Bàn.
📝 Đức Phật dạy có bốn thế giới tâm thức ở trong thân tâm của chúng ta. Nếu thân - khẩu - ý còn tạo nghiệp tham - sân - si thì sẽ dẫn đến tái sinh luân hồi của thân đời sau. Nếu thân - khẩu - ý tạo nghiệp sát sinh, gian tham trộm cắp… thì thân đời này và đời sau chịu nhiều quả khổ địa ngục. Nếu thân - khẩu - ý giữ gìn các giới hạnh thanh tịnh, tu tập các pháp quán Từ Bi Hỷ Xả thì sẽ được sống trong thiên giới, cõi trời. Còn nếu thân - khẩu - ý đoạn diệt tham - sân - si - mạn - nghi sẽ được hóa sinh vào Niết Bàn, chấm dứt sinh tử, luân hồi. ( Quý Phật tử nghe thêm pháp thoại TÂM VÔ LẬU CHỨNG NIẾT BÀN ).
Như chiếc chuông bị bể
Tự mình giữ yên lặng
Người đã chứng Niết Bàn
Tự mình không sân hận.
“Ta thành tựu Chánh Đẳng Giác là nhờ tâm không phóng dật, muôn pháp lành từ đó mà sinh”.
( Để hiểu rõ hơn về cách thức tu tập tâm không phóng dật, quý Phật tử nghe thêm pháp thoại KHÔNG PHÓNG DẬT BẤT TỬ ).
Khác thay duyên thế lợi
Khác thay đường Niết Bàn
Tỷ kheo, đệ tử Phật
Hãy như vậy thắng tri
Chớ ưa thích cung kính
Hãy tu hạnh viễn ly.
📝 Viễn ly là tâm không còn tham chấp lợi đắc, cung kính và danh vọng. Ai sống theo lợi đắc, cung kính và danh vọng thì tâm bị mất Niết Bàn. Cho nên, để tâm không bị mất Niết Bàn thì phải tu hạnh viễn ly.
Hãy cầu vui Niết Bàn
Bỏ dục, không nhiễm uế
Kẻ trí tự rửa sạch
Mọi cấu uế nội tâm.
📝 Tâm giống như miếng vải dơ bẩn, nếu chúng ta biết giặt sạch chúng thì chúng trở nên sạch sẽ và hữu dụng. Cũng vậy tâm chúng ta hàng ngày siêng năng tu tập, bỏ dần mọi tham đắm dục lạc (danh, lợi, sắc, thực, thùy) thì tâm ấy sẽ đạt được giải thoát Niết Bàn. (Quý Phật tử nghe thêm pháp thoại TÂM CẤU UẾ PHIỀN NÃO ).
Những ai thường chánh tâm
Tu tập pháp giác chi
Xa lìa mọi chấp trước
Hoan hỷ không nhiễm ái
Sẽ sống không lậu hoặc
Sáng chói, chứng Niết Bàn
Ngay trong đời hiện tại.
📝 Tham ái là trạng thái ưa thích dục lạc trong tâm. Ví dụ tâm mình còn tham chấp được người khác yêu quý mình, đó là tham ái. Tâm còn tham chấp ăn ngon, mặc đẹp, đó là tham ái... Hoặc khi ta đạt được thành công gì mà tâm còn tự mãn, vui thích khoe khoang, đó là tham ái. Hoặc một vị tu tập chứng đạt thiền định, tâm có khinh an hỷ lạc mà còn chấp thủ, khoe khoang, đó là tham ái… Để tâm không còn tham ái, Đức Phật dạy chúng ta hãy tu tập Bảy Pháp Giác Chi, hướng tâm đến Xả Giác Chi để xả ly tham ái, chứng ngộ Niết Bàn. ( Quý Phật tử nghe thêm pháp thoại PHÁP HÀNH BẢY GIÁC CHI và BỐN QUẢ CHỨNG THIỀN ĐỊNH ).
Một số sinh bào thai
Kẻ ác sinh địa ngục
Người thiện lên cõi trời
Vộ lậu chứng Niết Bàn.
📝 Đức Phật dạy có bốn thế giới tâm thức ở trong thân tâm của chúng ta. Nếu thân - khẩu - ý còn tạo nghiệp tham - sân - si thì sẽ dẫn đến tái sinh luân hồi của thân đời sau. Nếu thân - khẩu - ý tạo nghiệp sát sinh, gian tham trộm cắp… thì thân đời này và đời sau chịu nhiều quả khổ địa ngục. Nếu thân - khẩu - ý giữ gìn các giới hạnh thanh tịnh, tu tập các pháp quán Từ Bi Hỷ Xả thì sẽ được sống trong thiên giới, cõi trời. Còn nếu thân - khẩu - ý đoạn diệt tham - sân - si - mạn - nghi sẽ được hóa sinh vào Niết Bàn, chấm dứt sinh tử, luân hồi. ( Quý Phật tử nghe thêm pháp thoại TÂM VÔ LẬU CHỨNG NIẾT BÀN ).
Như chiếc chuông bị bể
Tự mình giữ yên lặng
Người đã chứng Niết Bàn
Tự mình không sân hận.
📝 Chiếc chuông bị bể không còn nghe được tiếng. Cũng vậy, người có tâm bất động giải thoát Niết Bàn thì không còn phiền não than vãn khổ với ai điều gì.
Chư Phật thường giảng dạy
Nhẫn, khổ hạnh tối thượng
Niết Bàn, quả tối thượng
Xuất gia không phá người
Sa môn không hại người.
📝 Đức Phật dạy chúng ta có bốn điều lợi ích:
+ Người tu tập đức kham nhẫn, dù thân này chịu nhiều khổ đau bệnh tật, nhưng tâm vẫn hoan hỷ bất động.
+ Niết Bàn là trạng thái bất động giải thoát hạnh phúc nhất, không còn tái sinh luân hồi
+ Người xuất gia không còn ràng buộc nhân quả gia đình, đời sống trắng bạch như vỏ óc, phóng khoáng như hư không, nên không còn làm cho ai đau khổ nữa.
+ Sa môn là bậc sống Phạm hạnh, giữ gìn các giới luật thanh tịnh, nên không còn làm khổ mình, khổ người và khổ muôn loài chúng sinh.
Đói khát, bệnh tối thượng
Các hành, khổ tối thượng
Hiểu chơn thực như vậy
Niết Bàn, lạc tối thượng.
📝 Đói khát là một trong những khổ đau lớn nhất của thân bệnh. Đói khát có thể làm cho con người đánh mất những đức tính cao đẹp và tạo ra nhiều nghiệp xấu như giành giật, trộm cắp và giết hại lẫn nhau.
📝 Đức Phật dạy các hành là vô thường, vô thường phải chịu khổ. Ví như lúc chúng ta còn trẻ, thân ta được nhiều sức khỏe và sắc đẹp, nhưng theo năm tháng vô thường thì thân này già yếu, xấu xí, phải chịu nhiều vất vả, khổ sở. Hoặc ta sống với người thân yêu hạnh phúc, khi vô thường hết duyên, họ không còn ở bên ta nữa, lúc ấy chúng ta đối diện sự đau khổ bị mất người thân… Tất cả vạn vật trong vũ trụ này đều thuận theo quy luật vô thường mà dẫn đến khổ đau.
📝 Chỉ có Niết Bàn là trạng thái bất động giải thoát bất diệt, không còn bị ràng buộc nhân quả vô thường khổ đau nữa.
Vô bệnh, lạc tối thượng
Biết đủ, tiền tối thượng
Thành tín, bạn tối thượng
Niết Bàn, lạc tối thượng.
+ Người không có bệnh tật thì thân tâm luôn an lạc. Nên có câu “sức khỏe là vàng”.
+ Người sống biết đủ thì đồng tiền trở nên cao thượng, biết làm những việc tốt, chia sẻ vật chất đến với những người kém may mắn.
+ Người có uy tín trung thực luôn là người bạn lành cho ta tin tưởng.
+ Tất cả những hạnh phúc niềm vui ở đời là tương đối, hữu hạn, vui ít khổ nhiều. Còn Niết Bàn là trạng thái hạnh phúc vĩnh hằng, dù sống trong cảnh khổ mà tâm vẫn an nhiên giải thoát, giống như hoa sen tinh khiết giữa bùn nhơ.
Những người thường giác tỉnh
Ngày đêm siêng tu học
Chuyên tâm hướng Niết Bàn
Mọi lậu hoặc được tiêu.
Chư Phật thường giảng dạy
Nhẫn, khổ hạnh tối thượng
Niết Bàn, quả tối thượng
Xuất gia không phá người
Sa môn không hại người.
📝 Đức Phật dạy chúng ta có bốn điều lợi ích:
+ Người tu tập đức kham nhẫn, dù thân này chịu nhiều khổ đau bệnh tật, nhưng tâm vẫn hoan hỷ bất động.
+ Niết Bàn là trạng thái bất động giải thoát hạnh phúc nhất, không còn tái sinh luân hồi
+ Người xuất gia không còn ràng buộc nhân quả gia đình, đời sống trắng bạch như vỏ óc, phóng khoáng như hư không, nên không còn làm cho ai đau khổ nữa.
+ Sa môn là bậc sống Phạm hạnh, giữ gìn các giới luật thanh tịnh, nên không còn làm khổ mình, khổ người và khổ muôn loài chúng sinh.
Đói khát, bệnh tối thượng
Các hành, khổ tối thượng
Hiểu chơn thực như vậy
Niết Bàn, lạc tối thượng.
📝 Đói khát là một trong những khổ đau lớn nhất của thân bệnh. Đói khát có thể làm cho con người đánh mất những đức tính cao đẹp và tạo ra nhiều nghiệp xấu như giành giật, trộm cắp và giết hại lẫn nhau.
📝 Đức Phật dạy các hành là vô thường, vô thường phải chịu khổ. Ví như lúc chúng ta còn trẻ, thân ta được nhiều sức khỏe và sắc đẹp, nhưng theo năm tháng vô thường thì thân này già yếu, xấu xí, phải chịu nhiều vất vả, khổ sở. Hoặc ta sống với người thân yêu hạnh phúc, khi vô thường hết duyên, họ không còn ở bên ta nữa, lúc ấy chúng ta đối diện sự đau khổ bị mất người thân… Tất cả vạn vật trong vũ trụ này đều thuận theo quy luật vô thường mà dẫn đến khổ đau.
📝 Chỉ có Niết Bàn là trạng thái bất động giải thoát bất diệt, không còn bị ràng buộc nhân quả vô thường khổ đau nữa.
Vô bệnh, lạc tối thượng
Biết đủ, tiền tối thượng
Thành tín, bạn tối thượng
Niết Bàn, lạc tối thượng.
+ Người không có bệnh tật thì thân tâm luôn an lạc. Nên có câu “sức khỏe là vàng”.
+ Người sống biết đủ thì đồng tiền trở nên cao thượng, biết làm những việc tốt, chia sẻ vật chất đến với những người kém may mắn.
+ Người có uy tín trung thực luôn là người bạn lành cho ta tin tưởng.
+ Tất cả những hạnh phúc niềm vui ở đời là tương đối, hữu hạn, vui ít khổ nhiều. Còn Niết Bàn là trạng thái hạnh phúc vĩnh hằng, dù sống trong cảnh khổ mà tâm vẫn an nhiên giải thoát, giống như hoa sen tinh khiết giữa bùn nhơ.
Những người thường giác tỉnh
Ngày đêm siêng tu học
Chuyên tâm hướng Niết Bàn
Mọi lậu hoặc được tiêu.
📝 Người siêng năng trong chánh niệm tỉnh giác là người luôn kiểm soát thân, khẩu, ý của mình, nếu có bị ai mắng chửi, đối xử không tốt với mình, nhưng tâm mình luôn hỷ xả cho họ, không buồn khổ, oán trách họ. Ai có tâm buông xả như vậy thì tâm đó là Niết Bàn. Người đó không còn bị lậu hoặc tham – sân – si - mạn - nghi chi phối nữa.
Tự cắt dây tình ái
Như tay bẻ sen thu
Hãy tu đạo tịch tịnh
Niết Bàn, Thiện Thệ dạy.
Tự cắt dây tình ái
Như tay bẻ sen thu
Hãy tu đạo tịch tịnh
Niết Bàn, Thiện Thệ dạy.
📝 Đức Phật dạy ái dục là nguyên nhân tạo ra nhân quả sinh tử luân hồi. Ai đoạn dứt được ái dục thì nghiệp khổ luân hồi chấm dứt.
Biết rõ ý nghĩa này
Bậc trí lo trì giới
Mau lẹ làm thanh tịnh
Con đường đến Niết Bàn.
Biết rõ ý nghĩa này
Bậc trí lo trì giới
Mau lẹ làm thanh tịnh
Con đường đến Niết Bàn.
📝 Người giác ngộ ra ý nghĩa này thì tâm trở nên nhàm chán ái dục ở đời, và luôn tầm cầu con đường giác ngộ giải thoát Niết Bàn.
Tỷ kheo tát thuyền này
Thuyền không, nhẹ đi mau
Trừ tham, diệt sân hận
Tất chứng đạt Niết Bàn.
Tỷ kheo tát thuyền này
Thuyền không, nhẹ đi mau
Trừ tham, diệt sân hận
Tất chứng đạt Niết Bàn.
📝 Tỳ kheo tát thuyền là người siêng năng tu tập Từ Bi Hỷ Xả, nhằm diệt trừ nghiệp khổ như: sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, ái biệt ly khổ, cầu bắt đắc khổ, oán tăng hội khổ, và ngũ uẩn xí thạnh khổ. Hằng ngày tinh tấn tác ý xả tâm tham - sân - si thì hiện tại được an lạc Niết Bàn.
Không trí tuệ, không thiền
Không thiền, không trí tuệ
Người có thiền có tuệ
Nhất định gần Niết Bàn.
📝 Người có trí là người giác ngộ Chân lý Tứ Diệu Đế, các pháp hành trợ đạo (trong 37 phẩm trợ đạo), và ba pháp quán Vô Thường, Khổ và Vô Ngã.
📝 Người có thiền là người tinh tấn chánh niệm, tu tập như lý tác ý theo các pháp hành trợ đạo để đoạn diệt phiền não tham sân si mạn nghi.
📝 Pháp Phật không khó tu, nếu biết giác ngộ ra ba pháp quán: vô thường, khổ và vô ngã, thì dù nhân quả tốt xấu nào có xảy ra, hành giả nương theo ba pháp quán trên để tác ý xả tâm thì ngay đó được giải thoát Niết bàn. Cho nên, Phật nói “Pháp Ta thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu". Tất cả pháp đều do tâm tạo, tâm thanh tịnh rồi thì phiền não sạch trong.
Thích Bảo Nguyên
P/S: Để hiểu rõ hơn về bài viết này, quý Phật tử nghe thêm pháp thoại TÂM BẤT ĐỘNG LÀ NIẾT BÀN.
Nguồn: www.facebook.com/ThichBaoNguyen.Info
Không trí tuệ, không thiền
Không thiền, không trí tuệ
Người có thiền có tuệ
Nhất định gần Niết Bàn.
📝 Người có trí là người giác ngộ Chân lý Tứ Diệu Đế, các pháp hành trợ đạo (trong 37 phẩm trợ đạo), và ba pháp quán Vô Thường, Khổ và Vô Ngã.
📝 Người có thiền là người tinh tấn chánh niệm, tu tập như lý tác ý theo các pháp hành trợ đạo để đoạn diệt phiền não tham sân si mạn nghi.
📝 Pháp Phật không khó tu, nếu biết giác ngộ ra ba pháp quán: vô thường, khổ và vô ngã, thì dù nhân quả tốt xấu nào có xảy ra, hành giả nương theo ba pháp quán trên để tác ý xả tâm thì ngay đó được giải thoát Niết bàn. Cho nên, Phật nói “Pháp Ta thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu". Tất cả pháp đều do tâm tạo, tâm thanh tịnh rồi thì phiền não sạch trong.
Thích Bảo Nguyên
P/S: Để hiểu rõ hơn về bài viết này, quý Phật tử nghe thêm pháp thoại TÂM BẤT ĐỘNG LÀ NIẾT BÀN.
Nguồn: www.facebook.com/ThichBaoNguyen.Info
Thursday, February 7, 2019
Chấm dứt tái sanh
Vòng luân hồi: từ sanh đến trưởng thành
Này các Tỷ-kheo, có ba sự hòa hợp mà một bào thai thành hình:
ở đây, cha mẹ có giao hợp và người mẹ không trong thời có thể thụ thai, và hương ấm (*)(gandhabba) không hiện tiền, như vậy bào thai không thể thành hình.
Ở đây, cha và mẹ có giao hợp, và người mẹ trong thời có thể thụ thai, nhưng hương ấm (gandhabba) không hiện tiền, như vậy bào thai không thể thành hình.
Và này các Tỷ-kheo, khi nào cha mẹ có giao hợp, và người mẹ trong thời có thể thụ thai, và hương ấm có hiện tiền; có ba sự hòa hợp như vậy, thì bào thai mới thành hình.
Rồi này các Tỷ-kheo,
người mẹ trong chín hay mười tháng mang bào thai ấy, với sự lo âu lớn đối với gánh nặng ấy. Rồi này các Tỷ-kheo, sau chín hay mười tháng, người mẹ sinh đẻ với sự lo âu lớn đối với gánh nặng ấy. Khi đã sinh, người mẹ nuôi hài nhi ấy với máu của mình. Này các Tỷ-kheo, trong luật của bậc Thánh, sữa của bà mẹ được xem là máu.
Này các Tỷ-kheo, đứa trẻ ấy, sau khi lớn lên, sau khi các căn đã thuần thục, chơi với những trò chơi dành cho các đứa trẻ, như với cái cày nhỏ, chơi khăng, chơi nhảy lộn nhào, chơi chong chóng, chơi với đồ đong bằng lá, chơi xe con, chơi cung nhỏ.
Này các Tỷ-kheo, đứa trẻ sau khi lớn lên, sau khi các căn do mắt nhận thức, được thuần thục, thọ hưởng đầy đủ năm món dục lạc; các sắc do mắt nhận thức, sắc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức... Các hương do mũi nhận thức... Các vị do lưỡi nhận thức... Các xúc do thân cảm xúc; các xúc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục.
(Tiếp tục luân hồi)
Khi thấy sắc bằng mắt, người đó tham ái đối với sắc đẹp, người đó ghét bỏ đối với sắc xấu, người đó sống niệm không an trú trên thân, với một tâm nhỏ mọn.Người đó không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chính nhờ chúng mà các ác bất thiện pháp của người đó được trừ diệt, không có dư tàn. Như vậy, đối diện với thân, sơ (thuận, nghịch) có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, người đó tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước thọ ấy.
Có tâm dục hỷ đối với những cảm thọ ấy, tức là chấp thủ.
Do duyên thủ nên hữu sanh; do duyên hữu nên sanh sinh khởi; do duyên sanh nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, sanh. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Khi người đó nghe tiếng với tai...
khi người đó ngửi hương với mũi...
khi người đó nếm vị với lưỡi...
khi người đó cảm xúc với thân...
khi người đó nhận thức pháp với ý, người đó tham ái đối với pháp tốt, ghét bỏ đối với pháp xấu.
Người đó sống niệm không an trú trên thân, với một tâm nhỏ mọn.
Người đó không như thật tuệ tri đến tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chính nhờ chúng mà các ác, bất thiện pháp của người đó được trừ diệt, không còn dư tàn.
Như vậy, đối diện với thân, sơ (thuận, nghịch), có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ. Người đó tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước cảm thọ ấy. Vì người đó tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước cảm thọ ấy nên dục hỷ sanh. Có tâm dục hỷ đối với những cảm thọ ấy, tức là chấp thủ. Do duyên thủ nên hữu sanh; do duyên hữu nên sanh sinh khởi; do duyên sanh nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Ðoạn tận luân hồi: Sự tu tập
Ở đời, này các Tỷ-kheo, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên thuyết điều Như Lai đã chứng ngộ. Như Lai thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa. Như Lai truyền dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh.Người gia trưởng hay con vị gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe Pháp ấy. Sau khi nghe Pháp, người ấy sanh lòng kính ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng, vị ấy suy nghĩ:
"Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình".
Sau một thời gian, người ấy bỏ tài sản nhỏ hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy sống thành tựu học pháp chánh hạnh, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình.
Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, sống thanh tịnh, không có trộm cắp, từ bỏ tà hạnh, sống theo phạm hạnh, sống hạnh viễn ly, từ bỏ dâm dục hèn hạ.
Từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt, không phản lại đối với đời, từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, không đến nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia.
Như vậy, vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp, từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói không lỗi lầm, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh Pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.
Vị ấy từ bỏ làm hại đến các hột giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời, từ bỏ đi xem múa, hát, nhạc, trình diễn, từ bỏ trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thơm và các thời trang, từ bỏ dùng giường cao và giường lớn, từ bỏ nhận vàng bạc, từ bỏ nhận các hạt sống, từ bỏ nhận thịt sống, từ bỏ nhận đàn bà, con gái, từ bỏ nhận nô tỳ, gái và trai, từ bỏ nhận cừu và dê, từ bỏ nhận gia cầm và heo, từ bỏ nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái, từ bỏ nhận ruộng nương và đất đai, từ bỏ nhận người môi giới hoặc tự mình làm môi giới, từ bỏ buôn bán, từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc, đo lường, từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo, từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
Vị ấy biết đủ với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Ví như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, Tỷ-kheo biết đủ với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát).
Vị ấy nhờ thành tựu Thánh giới uẩn này nên hưởng được lạc thọ, nội tâm không lỗi lầm.
Từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt, không phản lại đối với đời, từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, không đến nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia.
Như vậy, vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp, từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói không lỗi lầm, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh Pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.
Vị ấy từ bỏ làm hại đến các hột giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời, từ bỏ đi xem múa, hát, nhạc, trình diễn, từ bỏ trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thơm và các thời trang, từ bỏ dùng giường cao và giường lớn, từ bỏ nhận vàng bạc, từ bỏ nhận các hạt sống, từ bỏ nhận thịt sống, từ bỏ nhận đàn bà, con gái, từ bỏ nhận nô tỳ, gái và trai, từ bỏ nhận cừu và dê, từ bỏ nhận gia cầm và heo, từ bỏ nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái, từ bỏ nhận ruộng nương và đất đai, từ bỏ nhận người môi giới hoặc tự mình làm môi giới, từ bỏ buôn bán, từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc, đo lường, từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo, từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
Vị ấy biết đủ với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Ví như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, Tỷ-kheo biết đủ với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát).
Vị ấy nhờ thành tựu Thánh giới uẩn này nên hưởng được lạc thọ, nội tâm không lỗi lầm.
Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên; vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp; vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên; vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn.
Vị ấy nhờ sự hộ trì cao quý các căn ấy, nên hưởng lạc thọ, nội tâm không lỗi lầm.
Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác, khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác, khi ăn uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác, khi đi đại tiểu tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác, khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác.
Vị ấy với sự thành tựu Thánh giới uẩn này, với sự thành tựu Thánh hộ trì căn này, và với Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm.
Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng, tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt.
Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái.
Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa, tâm hết sân hận.
Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên.
Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối tiếc.
Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
Sau khi từ bỏ năm triền cái làm ô nhiễm tâm, làm cho yếu ớt trí tuệ, vị ấy ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm giác sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là "xả niệm lạc trú", chứng và trú Thiền thứ ba.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Ðoạn tận luân hồi: Giải thoát rốt ráo
Khi vị ấy thấy sắc bằng mắt, vị ấy không tham ái đối với sắc đẹp, không ghét bỏ đối với sắc xấu, vị ấy sống an trú niệm trên thân, với tâm vô lượng.Vị ấy như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chính nhờ chúng mà các ác bất thiện pháp của vị ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Như vậy từ bỏ (thuận nghịch), có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy.
Vì vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy, nếu có dục hỷ nào đối với các cảm thọ, dục hỷ ấy được trừ diệt. Do dục hỷ của vị ấy diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
Khi vị ấy nghe tiếng bằng tai... khi vị ngửi hương bằng mũi... Khi vị ấy nếm vị bằng lưỡi... Khi vị ấy cảm xúc bằng thân... Khi vị ấy nhận thức pháp bằng ý, vị ấy không tham ái đối với pháp tốt, không ghét bỏ đối với pháp xấu.
Vị ấy sống an trú niệm trên thân, với tâm vô lượng.
Vị ấy như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính nhờ chúng mà các ác, bất thiện pháp của vị ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Như vậy, vị ấy đoạn trừ (thuận nghịch) có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy.
Vì vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy, nếu có dục hỷ nào đối với các cảm thọ, dục hỷ ấy được trừ diệt. Do dục hỷ của vị ấy diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
(Kinh Trung bộ - hình mang tính minh họa, do mình thêm vào.)
(*): Hương ấm chỉ cho trứng và tinh trùng, trứng và tinh trùng không đủ điều kiện để thụ thai, trứng và tinh trùng khi chưa gặp nhau chỉ là đơn bào vi sinh chưa có sự sống của một chủng loài.
(Kinh Trung bộ - hình mang tính minh họa, do mình thêm vào.)
(*): Hương ấm chỉ cho trứng và tinh trùng, trứng và tinh trùng không đủ điều kiện để thụ thai, trứng và tinh trùng khi chưa gặp nhau chỉ là đơn bào vi sinh chưa có sự sống của một chủng loài.
Tuesday, February 5, 2019
Niệm chết
Với mỗi hơi thở, ta nhận thức rằng đây có thể là hơi thở cuối cùng. Ta có thể chết ngay lúc nầy. Ta không biết chắc chắn có còn tiếp tục thở hay không, ngoài thời khắc còn sống trong hiện tại. Khi thấy rõ sự kiện bấp bênh nầy, ta không còn xem thường mỗi một hơi thở mình đang thể nghiệm.
Ý thức được rằng hơi thở kế tiếp có thể là hơi thở cuối cùng có thể được tăng cường bằng một ý tưởng khác: “Nếu như hơi thở nầy không phải là hơi thở cuối cùng, chắc chắc đó là hoàn tất thêm một hơi thở bước đến cửa tử.” Ta không biết sẽ chết lúc nào nhưng biết chắc chắn là sẽ chết. Với mỗi một hơi thở, chắc chắn là ta tiến gần hơn đến lúc ta chết. Hơi thở vừa xong là bớt đi một hơi thở cho đến khi ta không còn có hơi thở nào nữa.
– Tỳ-khưu Anālayo
FB: Binh Anson
Subscribe to:
Posts (Atom)













