THIỀN CĂN BẢN
|
TRƯỞNG LÃO THÍCH THÔNG LẠC
|
(TÀI LIỆU GHI LẠI TỪ BĂNG GIẢNG CỦA THẦY)
|
MỤC LỤC
Trang
Lời ghi chú........................................................................................ 2
Lời nói đầu........................................................................................ 4
I. THIỀN
CĂN BẢN........................................................................... 7
II. 12
ĐIỀU QUAN TRỌNG CẦN GHI NHỚ ĐỂ LY DỤC LY BẤT THIỆN PHÁP 9
III. TU
THIỀN GIAI ĐOẠN 1............................................................... 11
3.1 PHẦN
I: LY DỤC......................................................................... 11
3.1.1 HẠNH ĂN................................................................................. 11
3.1.2 HẠNH NGỦ............................................................................... 14
3.1.3 HẠNH ĐỘC CƯ........................................................................ 16
3.2
PHẦN II: LY BẤT THIỆN PHÁP................................................... 20
3.2.1 ĐỨC NHẪN NHỤC.................................................................... 25
3.2.2 ĐỨC TÙY THUẬN..................................................................... 26
3.2.3 ĐỨC BẰNG LÒNG.................................................................... 28
3.2.4 VĂN TUỆ, TƯ TUỆ, TU TUỆ...................................................... 29
3.2.5 THẦY TRẢ LỜI CHO QUÝ TU SINH.......................................... 30
IV. BỔ
TÚC SƠ ĐỒ ĐƯỜNG LỐI TU TẬP......................................... 47
V. GIAI
ĐOẠN I: DẪN TÂM VÀO ĐẠO ............................................. 50
VI: TÂM
THƯ CỦA THẦY.................................................................. 53
LỜI GHI CHÚ
Kính thưa quý Thầy, quý Sư cô cùng quý vị cư sĩ! Trong
tài liệu này chúng con đã đánh máy lại, chỉnh sửa lỗi đánh máy sách Thiền
căn bản theo nguyên bản pháp âm mà Thầy đã giảng. Đồng thời, chúng con
cũng đã làm lại phần mục lục để dễ theo dõi. Theo như trong băng giảng thì
không có phần trả lời câu hỏi của Thầy Giác Quang, Thầy Thiện Tâm, nhưng chúng
con để nguyên như trong bản cũ. Phần 3.2.5
Thầy trả lời câu hỏi cho quý tu sinh là phần tiếp nối của trang 23 nhưng
chúng con đưa xuống cho liền mạch Phần II:
Ly Bất Thiện Pháp.
Quý Thầy, quý Sư cô và quý vị cư sĩ có thể nghe bài
pháp âm Thiền căn bản của đức Trưởng lão dạy tại link:
Kính ghi,
12/07/2014
Nhóm Đánh Máy
NGƯỜI TU SĨ PHẬT GIÁO SỐNG TRONG ĐỜI NHƯ LOÀI
HOA SÚNG
Những loài
hoa sống trong nước đọng bùn lầy mà vẫn không hôi tanh mùi bùn, cũng như những
người đệ tử của Đức Phật sống trong thế gian mà không ô nhiễm thế gian, tức là
không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sinh.
LỜI NÓI ĐẦU
Cách
đây mười hai năm chúng tôi đã dạy Thiền căn bản, một loại thiền của Phật Giáo
Nguyên Thuỷ, nhưng chúng tôi giảng miệng thu băng, chứ không có viết thành
sách, vì chúng tôi nghĩ rằng viết thành sách là điều kiện tạo danh và lợi dễ
dàng trong giới Tăng Ni và Phật tử.
Đức
Phật dạy: “có danh có lợi thì nên ẩn bóng”, do lời dạy
này, nên khi tu chứng chúng tôi dạy miệng không ghi chép lại thành sách, mãi
cho đến một hôm chúng tôi nhận được một cuốn băng cassette do một Phật tử trao
và nhờ chúng tôi nhuận lại.
Thấy
nhân duyên vừa đủ để nhuận lại bài giảng này, vì trước kia chúng tôi giảng vừa
đủ để cho tu sĩ tại Tu viện Chơn Như chuyên tu, không được phổ biến, nên ý
nghĩa được cô đọng lại trong pháp LY và XẢ. Những người ở tại tu viện Chơn Như
được sự hướng dẫn trực tiếp của chúng tôi nên khi tu tập có sự gì không hiểu rõ
thì trực tiếp thưa hỏi liền. Còn khi đã nhuận lại thành sách là một điều rất
khó cho người thực hành. Tại sao vậy?
Vì kinh
sách không thể hướng dẫn tu tập được. Một chữ mà người hiểu nghĩa này kẻ hiểu
nghĩa khác, cho nên kinh sách hiện giờ thành kinh sách kiến giải quá nhiều.
Với tất
cả các tôn giáo khác thì các đệ tử của các tôn giáo đó thường kiến giải bổ sung
cho giáo lý Thầy Tổ của mình hoàn chỉnh hơn. Ngược lại, với Phật Giáo thì không
thể làm thế được, vì tất cả đệ tử của đức Phật sau này không có ai hơn đức
Phật. Cho nên lời Ngài
dạy như đinh đóng cột, không ai thay đổi và thêm bớt được, vì thay đổi và thêm bớt là làm lệch ý của
Phật. Làm lệch ý của Phật thì biến lời dạy của Ngài trở thành thế tục hóa hay
bị các tôn giáo khác đồng hóa. Cho nên kinh sách Phật Giáo hiện giờ nói nhiều,
lý luận hay song tu tập chẳng đến đâu, chỉ còn cầu cúng dưới nhiều hình thức mê
tín dị đoan dưới nhiều hình thức tu tập ức chế tâm, khiến tâm rơi vào những
trạng thái tưởng, rồi cho đó là định tưởng. Thật là điên đảo!
Do đó
khi nhuận lại thành sách chúng tôi rất lo ngại, sợ mọi người hiểu lầm danh từ
rồi tu sai lạc.
Ví dụ: “Tâm tùy tức”, tâm tùy tức có nghĩa là “tâm nương theo hơi thở”. Theo như nghĩa trong kinh sách Nguyên Thủy
thì “Tâm tùy tức tức là tâm định
trên thân”, có
nghĩa là tâm hết phóng dật, khi tâm hết phóng dật thì tâm ở đâu? Tâm ở trên hơi
thở vì hơi thở là thân hành nội của thân. Nếu tâm hết phóng dật mà không định
trên thân thì tâm rơi vào Không. Tâm rơi vào Không là một trạng thái của tưởng
định tức là Không Vô Biên Xứ Tưởng Định. Còn “tùy tức” của Lục Diệu Pháp Môn là
do sự ức chế tâm, bắt buộc tâm phải nương theo hơi thở. Còn kinh sách Nguyên
Thủy dạy tùy tức là do tâm Ly Dục Ly Ác Pháp, mà tâm đã ly dục ly ác pháp là
tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh nên tâm định vào thân gọi là “tùy tức”. Cho nên
tùy tức trong kinh sách Nguyên Thủy và tùy tức trong kinh sách Đại Thừa không
giống nhau. Do không hiểu ý nghĩa của danh từ trong kinh Nguyên Thuỷ nên người
sau chế ra Lục Diệu Pháp Môn dùng để tu ức chế tâm. Pháp Lục Diệu cũng giống
như thiền Minh Sát Tuệ bằng cách ức chế tâm, sau khi ức chế tâm được thì lại
quán xét (Quán, Hoàn, Tịnh) hay là Minh Sát để xả tâm. Đó là lối tu tập đi
ngược lại Giới
- Định - Tuệ của Đạo
Phật.
Bởi vậy
khi nhuận lại thành sách, chúng tôi rất sợ những danh từ, người ta sẽ hiểu sai
tu thiền của Đạo Phật mà trở thành tu thiền của ngoại đạo. Giáo pháp của Đức
Phật là giáo pháp ly tham, đoạn ác pháp, mục đích là khắc phục tham ưu để con
người được giải thoát từ ngay lúc đầu mới bắt tay vào sự tu tập là có kết quả
ngay liền. Nếu không biết cách, chỉ tu sai một chút xíu là đã bị ức chế tâm.
Ví dụ
ngồi tu tập Định Niệm Hơi Thở, nếu cứ mải lo tập, tập trung hơi thở thì bị ức
chế tâm. Tu hơi thở mà quan sát Thân, Thọ, Tâm, Pháp nếu có một chướng ngại
pháp nào hiện đến trong bốn chỗ này thì cố gắng khắc phục, đẩy lui như trong Tứ
Niệm Xứ đã dạy: “Trên
thân quán thân để khắc phục tham ưu, trên thọ quán thọ để khắc phục tham ưu,
trên tâm quán tâm để khắc phục tham ưu và trên pháp quán pháp để khắc phục tham
ưu”, nhưng
khi bốn chỗ Thân, Thọ, Tâm, Pháp không có chướng ngại pháp thì tâm ở đâu? Tâm ở
tại hơi thở. Tâm ở tại hơi thở mà không bắt buộc tâm ở tại hơi thở. Tâm định
trên niệm của hơi thở, tức là không ức chế tâm vào hơi thở. Nên trong kinh
Nguyên Thủy Phật gọi là “Định Niệm Hơi Thở” chứ không gọi là “Quán Niệm Hơi
Thở”, vì Quán Niệm Hơi Thở tức là ức chế tâm vào hơi thở. Quán sổ tức, quán tùy
tức cũng là pháp ức chế tâm. Chúng ta nên đọc lại bài kinh “Nhập Tức Xuất Tức”
trong kinh Nguyên Thuỷ:
“Quán
ly tham, tôi biết, tôi hít vô. Quán ly tham, tôi biết, tôi thở ra”. Có
nghĩa là quán xét tâm để tâm không còn tham, sân, si nữa thì tâm sẽ biết hơi
thở hít vô. Quán xét tâm để tâm không còn tham, sân, si nữa thì tâm sẽ biết hơi
thở thở ra. Chứ không phải hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở
ra, đó là cách thức tu tập ức chế tâm để tỉnh thức, chứ không phải xả tâm.
Bởi các
nhà học giả tu chưa đến đâu mà lấy lý trí hữu hạn của mình đọc kinh sách Phật
rồi viết ra đủ loại thiền khiến cho người sau tu hành chẳng ra gì.
Cũng
pháp của đức Phật mà hiểu sai, tu thành pháp ức chế tâm. Cũng như nghe nói “sống Độc cư là bí quyết thành
công của Thiền định”. Có người không hiểu độc cư như thế nào lại
sống ức chế tâm mình, sống cô đơn chịu đựng, đến khi sức chịu đựng không nổi,
bắt đầu thần kinh hưng phấn, nói loạn tưởng, giống như người điên.
Khi đã
nhuận lại thành sách, quý vị muốn tu hành thì phải được gần Thiện Hữu Tri Thức,
chứ không nên dựa vào kinh sách mà tu tập, trí tuệ hữu hạn của quý vị nhận thức
không chính xác đâu, phải thưa hỏi với người có kinh nghiệm, có nghĩa là người
ta đã tu và có kết quả thực sự. Tuy vậy khi nhuận lại chúng tôi cũng hết sức
làm sáng tỏ pháp hành để quý vị tu tập có kết quả.
Khi
muốn tu tập theo pháp môn này, chúng tôi xin quý vị nên viết thư hỏi chỗ nào
nghi ngờ, nhất là pháp hành hỏi kỹ từng chữ nghĩa cho rõ ràng.
Quý vị
nên nhớ, tu đúng thì không lâu, thời gian ngắn kết quả nhanh, còn tu sai mất
thời gian mà không có kết quả. Tu đúng có xả tâm liền, tâm an ổn, thanh thản và
vô sự. Tu sai thì chướng ngại pháp dồn dập tiến tới khiến cho thân tâm bất an,
tu hành mãi dậm chân tại chỗ và cũng không biết cách thức nào tu tập tiến tới,
chỉ còn biết an ủi “Tu hành phải nhiều kiếp như trong kinh Đại thừa dạy”.
Xin lưu
ý quý vị, khi tu hành dậm chân tại chỗ, tức là tâm tham, sân, si có giảm bớt
nhưng không hết và không biết cách làm chủ sanh, già, bịnh, chết là quý vị đã
tu sai pháp thì phải mau tu tập sửa lại, không khéo mất thân rồi khó tìm lại
được.
Kính
ghi
Tu
Viện Chơn Như
(Năm
2008)
I. THIỀN
CĂN BẢN
Bây giờ các con im lặng để nghe Thầy giảng trạch chỗ tu sai
lệch trong một năm tu tập đã qua, chỗ nào đúng thì các con tiếp tục tu, chỗ nào
sai, các con sửa lại tu cho đúng. Các con cố gắng nghe cho kĩ.
Hôm
nay là ngày Mồng Một Tết năm Bính Tý, 1996, Thầy có đôi lời cần nhắc nhở các
con trong sự tu tập.
Thời
gian thấm thoát trôi qua quá nhanh, mới đó mà đã hết một năm tu tập của chúng
ta. Để kiểm điểm lại xem một năm tu tập có tiến bộ hay không, hay còn dậm chân
tại chỗ? Để xác định điều này, đã trắc nghiệm tuyển thi
để chọn và đưa các con lên tu tập lớp Thiền định thứ II, ở giai đoạn diệt, tức
là đóng mở sáu căn. Nhưng hoàn toàn thất vọng, một năm tu tập đã qua, và tất cả
các con đều thi rớt. Chỉ có một mình cô Huệ Ân là đủ điểm đậu ở giai đoạn “Ly” thứ nhất, phần I. Các
con đành phải ở lại một năm nữa để tu tập ở giai đoạn I để “Ly” cho được bản
ngã của mình.
Tại
sao các con lại rớt? Xét ra có nhiều nguyên nhân tu sai mà các con không biết:
1.
Tu sai mà không biết mình tu sai.
2.
Cô Diệu Quang nhắc nhở mà không chịu nghe theo.
3.
Cứ dựa vào Thầy để nghe thuyết giảng, tích
lũy sự hiểu biết suông nên tạo thành bản ngã to lớn.
4. Học tập, thuộc nhiều, nói nhiều, đến khi hành thì sai hết. Lớp này tu tập chưa xong, lại tu lớp
khác.
5.
Ăn, ngủ chưa trọn vẹn.
6. Độc cư ở giai đoạn I chưa xong, lại vượt qua ở giai đoạn
II, III.
7.
Nhẫn nhục chưa tròn mà vội tuỳ thuận, bằng lòng là nén tâm tu sai.
8.
Thiếu lòng tin ở người Thiện hữu tri thức ở gần gũi bên mình.
9.
Không nghe lời dạy bảo khuyên răn của Thiện hữu tri thức thân cận.
10.
Thường sống trong bản ngã, cố giữ kiến chấp, không chịu thấy và xa lìa các lỗi
lầm. Thường hay tự lý luận, che đậy, tranh chấp, cãi lý, nên tâm bất an.
11.
Sống thiếu lục hoà, sanh tâm ganh tị.
12. Sống độc cư sai, tạo cảnh nén tâm, ức chế không nói.
13.
Tu sai, không thưa hỏi kỹ Thiện tri thức, để trở thành lối tu có hình thức bên
ngoài.
14.
Tình cảm người thân không chịu quán xét, xa lìa, nên tâm thường bị phân tán.
15. Khi nghe nhắc nhở, thiếu trí thông minh, không chịu thưa hỏi
kỹ lại.
16. Những lỗi lầm tu sai của nhau thường che dấu.
17. Tâm luôn luôn sợ hãi, không dám chỉ mặt, vạch tên bạn đồng
tu có lỗi lầm. Đó là thiếu lòng dũng cảm, không gan dạ xây dựng mình tốt, bạn
tốt, tập thể tốt.
18. Không dám thẳng thắn nhận lỗi mình, chỉ lỗi người là tính hèn
nhát.
19. Vị tình, thương bạn bè đồng tu, không dám chỉ lỗi là đặt
tình thương không đúng chỗ.
20. Sợ bạn bè đồng tu xấu hổ vì lỗi lầm, không dám chỉ sai cho
người khác sửa, đó là làm hại bạn mình, hại tập thể, hại xã hội.
21. Mỗi bữa ăn nào không giữ yên lặng để nghe lời chỉ bảo của
Thiện hữu tri thức, để tu sửa thân tâm, thường tranh luận, biện lý, che đậy lỗi
lầm
của mình.
22. Thường nương tựa kiến thức thế gian, sanh kiến chấp,
nuôi lớn ngã mạn, khinh thường người Thiện hữu tri thức trợ giúp mình tu
học.
23. Không chịu nương kiến thức xuất thế gian để diệt ngã, xả
tâm, kính trọng người Thiện hữu tri thức của mình.
24. Thiếu lòng tôn kính đối với người Thiện
hữu tri thức nghịch duyên thân cận.
25. Không
chịu động não, suy tư, làm việc để tìm ra các kiến chấp và sự tu tập sai của
mình.
26. Cứ dựa vào lời giải thích lòng vòng của
Thầy, mà không chịu nghe lời chỉ thẳng của cô Diệu Quang.
27. Không chịu động não, quán xét lỗi mình,
tu sai trong lời chỉ thẳng của cô Diệu Quang.
28. Thấy Thầy ở xa, không thấy
cô Diệu Quang ở gần. Đó là bỏ mồi, bắt bóng.
29. Nghe tiếng nói của Thầy,
không chịu nghe tiếng nói của cô Diệu Quang. Đó là ôm vang, bỏ tiếng.
30. Không nghe lời chỉ thẳng
của cô Diệu Quang để triển khai trí tuệ vô sư, ly dục, ly bất thiện pháp.
Do 30 nguyên nhân trên đây mà
các con đã thi rớt. Và cũng nhờ sự tuyển thi này, các con được biết mình rõ hơn
ở mức độ nào trong một
năm tu tập.
II. 12
ĐIỀU QUAN TRỌNG CẦN GHI NHỚ ĐỂ LY DỤC LY BẤT THIỆN PHÁP
Các con cần lưu ý, trong sự tu tập Thiền định
có 12 điều quan trọng ở giai đoạn đầu để tu tập Ly dục - Ly bất thiện pháp.
1. Thường tu tập tỉnh giác trong mọi hành động của thân, khẩu, ý.
2.
Thường tu tập cẩn thận, từ việc làm nhỏ nhất, đến việc làm lớn nhất, đều phải
dè dặt, kỹ lưỡng.
3.
Thường tu tập ý tứ mọi hành động, thân - khẩu - ý trong thiện pháp và ác pháp.
4.
Thường tu tập, bảo vệ và giữ gìn tâm mình thanh thản, để
được sáng suốt và bình tĩnh.
5.
Thường tu tập nghị lực để chiến đấu với tâm mình, ly dục, ly ngã, ly bất thiện
pháp.
6.
Phải tỏ lòng tôn kính, cầu xin người Thiện hữu tri thức thân cận của mình để
được nghe những lời chỉ thẳng, vạch trần những lỗi lầm, những chỗ tu sai lạc để
xả ngã và tu tập lại cho đúng.
7.
Khi thiện hữu tri thức bảo điều gì thì phải làm đúng, không nên làm sai. Đó là
tu tập đức tùy thuận ở người, làm sai lời dạy là tuỳ thuận ở mình.
8.
Khi người Thiện hữu tri thức nói oan ức và mắng chửi mình là để mình tu tập đức
nhẫn nhục.
9.
Khi người Thiện hữu tri thức nói trái ý mình là để dạy mình tu tập đức bằng
lòng.
10.
Khi người Thiện hữu tri thức chê mình là để rèn luyện mình cách thức xả ngã.
11.
Khi người Thiện hữu tri thức khen mình là để xem mình có xả ngã được chưa?
12.
Khi người Thiện hữu tri thức bảo mình phải tự tìm cách xả tâm, ly dục, ly bất
thiện pháp, không được học thuộc lòng, đó là chỉ cho mình động não, khai triển
trí tuệ vô sư, ly dục, ly bất thiện pháp.
Trong 12 điều trên đây, các con cần phải ghi nhớ kỹ. Những gì
chưa hiểu, phải thưa hỏi thêm để biết cách tu tập cho đúng.
Rút tỉa ưu khuyết một năm tu tập đã qua, các con đã có nhiều
kinh nghiệm hơn. Bước sang năm mới, các con hãy chuẩn bị tinh thần dũng mãnh,
nghị lực kiên cường để luôn luôn chiến thắng trong mặt trận ly dục, ly bất
thiện pháp, để đem lại cho các con một tâm hồn thanh bình, yên vui, để được kết quả tuyển thi sắp tới, để
thực hiện bước sang giai đoạn tu học cao hơn, để là thực hiện được giấc mộng
làm chủ sanh tử.
Cố gắng, các con hãy cố gắng lên! Phần thưởng chiến thắng danh
dự cho những ai biết cố gắng đang chờ phía trước. Đừng thấy những thất bại
đã qua mà hối tiếc. Hãy nhìn hiện tại và vị lai mà tiến bước tu tập. Có quyết
tâm, phải có thành công. Sự tu tập không khó, khó vì những người không có quyết
tâm, thiếu ý chí và nghị lực dũng mãnh.
Những lời sách tấn này, các con phải nhớ mãi trên bước đường tu
tập Thiền định. Các con đừng ngại khó khăn, vì gần bên các con đã có cô Diệu
Quang, kế đó còn có Thầy. Đường đi khó là vì chưa biết đường. Nhưng khi đã biết
đường, thì dù đường đi có khó đến đâu cũng vẫn đến đích. Mạnh dạn tiến lên hỡi
các con! Để chấm dứt đau khổ sanh tử luân hồi muôn đời. Đừng để thân tâm này
trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi, tiếp diễn mãi mãi đau khổ.
Sau khi nghe lời giảng trạch
chỗ tu sai, các con đã hiểu rõ rồi, và đã nhận ra, bây giờ các con cố gắng suy
tư, động não, tìm hiểu chỗ sai của mình, để tu sửa lại, để được giải thoát, để
được tu tập lớp cao hơn. Thầy sẽ bắt đầu giảng trạch bổ túc thêm những phần các
con đang tu tập dở dang.
Hôm nay bắt đầu cho một năm tu tập, Thầy xin nhắc lại trên con
đường tu tập theo Đạo Phật, có ba giai đoạn tu Thiền định:
1. LY: Có
nghĩa là rời xa, lìa xa, tránh xa.
2. DIỆT: Có
nghĩa là đóng lại, làm cho ngưng hoạt động, dừng lại.
3. XẢ: Có
nghĩa là bỏ ra, ném ra, không cần dùng nữa.
Giai
đoạn thứ nhất trong một năm tu tập, các con chỉ có tu tập ly dục, ly bất
thiện pháp. Thế mà các con đã lầm
lẫn nên chỉ tu tập diệt và xả. Vì
thế sự tu tập của các con trở thành mù mờ, nên không biết mình tu cái nào
chính, cái nào phụ. Cái chính là
ly dục, ly bất thiện pháp, tức là tu tập Ba Đức, Ba Hạnh. Còn cái tu phụ là nhiếp tâm trong hơi
thở, nó chỉ phụ trợ cho sự tu tập LY mà thôi. Các con đã lầm nên lấy cái tu
chính làm cái tu phụ, còn cái tu phụ làm cái tu chính. Vì thế, khi thi các con
đều rớt hết là phải. Qua một năm tu tập, khi tuyển thi lên lớp, mới nhận ra
được sự lầm lẫn tu sai của các con.
Bây giờ Thầy sẽ giảng trạch giai đoạn thứ nhất là LY để các con
hiểu đúng cách, rồi nương vào cô Diệu Quang chỉ thẳng, đập thẳng tu tập. Xưa đức Phật Thích Ca Mâu Ni phải tu
ở giai đoạn này sáu năm khổ hạnh mới ly được dục. Còn ở giai đoạn II, III, Thầy
không giảng, vì nếu giảng các con sẽ hiểu lộn xộn, rồi không biết lớp lang tu
tập. Chờ khi nào các con tu tập xong giai đoạn I, Thầy sẽ giảng giai đoạn II.
Tu giai đoạn thứ II xong, Thầy sẽ giảng tiếp giai đoạn III.
Tu tập ở giai đoạn I là phải xét lại Ba Đức, Ba Hạnh. Đây là phương tiện tu tập Ly Dục, Ly Bất Thiện Pháp. Ba
đức - ba hạnh là gì? Ba đức là: Nhẫn Nhục, Tùy Thuận, Bằng
Lòng. Ba hạnh là: Ăn, Ngủ, Độc Cư.
III. TU THIỀN GIAI ĐOẠN I
Bây giờ Thầy triển khai giai đoạn 1, giai đoạn này chia làm hai
phần.
-
Phần 1: Ly dục
-
Phần 2: Ly bất
thiện pháp
3. 1
PHẦN I: LY DỤC
Các con tu tập phần thứ nhất trước, đó là phần ly dục. Phần này
các con phải lập 3 hạnh:
1. Ăn
2. Ngủ
3. Độc cư
Vậy ly
dục là gì? Ly dục là lìa xa, rời xa, tránh xa lòng ham muốn của mình.
Muốn lìa xa thì các con phải tìm xem đối tượng của lòng ham muốn là cái gì.
Trong đời sống hàng ngày của con người có năm đối tượng dục lạc khiến cho tâm
các con sanh ra ham muốn. Một là ăn, hai là ngủ, ba là sắc dục,
bốn là danh, năm là lợi. Muốn xa lìa năm thứ dục lạc này, Thầy lấy ba hạnh để các
con tu tập ly dục. Hạnh
thứ nhất: ăn, hạnh thứ 2: ngủ, hạnh thứ 3: độc cư. Muốn tu tập lập được ba hạnh
này thì các con đã xa lìa tâm ham muốn mà còn gọi là tâm ly dục. Muốn lập được
ba hạnh này các con phải hiểu rõ nó, cái hại và cái lợi của ăn, ngủ, độc cư như thế nào?
3.1.1 Hạnh ăn
Bây giờ Thầy triển khai về hạnh ăn để các con thấu rõ. Hạnh
ăn uống là một phương tiện để tu tập ly dục về ăn uống. Người đời thường nói “ham ăn, hốt uống” là để chỉ những hạng
người xấu, cố thực, tham ăn, tham uống. Chúng ta là những tu sĩ tu của đạo giải thoát mà không giải thoát
được cái ăn thì còn giải thoát được cái gì? Vậy, chúng ta phải tập ăn uống ngày
một bữa để nuôi sống thân mà thôi. Không được ăn uống lặt vặt, không được ăn
uống phi thời, không được chạy theo dục lạc của ăn uống. Phải luôn luôn
cố gắng khắc phục.
Theo Đạo Phật không có dạy người ta tuyệt thực hay tiết
thực. Xưa đức Phật tu khổ hạnh tối đa là tiết thực, ăn quá
ít nên cơ thể suy mòn, tinh thần không
sáng suốt. Do chỗ tu sai này không tìm được đạo giải thoát, nên đức Phật xả bỏ khổ hạnh tối đa,
tức là bỏ hạnh tiết thực, chỉ còn giữ lại ăn uống đủ sống để cơ thể khỏe mạnh tu
tập. Khi xả khổ hạnh tối đa, đức
Phật trở về đời sống ăn ngày một bữa bình thường, vẫn khỏe mạnh cho đến 80 tuổi
Ngài mới chết.
Chúng ta bây giờ cũng vậy, từ ngày các con đến Tu viện, ăn uống
ngày một bữa mà vẫn khỏe mạnh. Thường trong giờ lao động đều có sự lao động
nhưng cơ thể vẫn bình thường.
Các con nên xét kỹ về dục ăn uống, rất là quan trọng trong cuộc
sống hàng ngày. Các con có nhìn thấy chăng, vì ăn uống mà người ta xâu xé lẫn
nhau, giết hại nhau, chà đạp lên nhau mà chẳng có chút lòng xót thương yêu
nhau, sánh loài vật cũng như vậy.
Vì ăn uống mà người ta nghèo đói, khổ sở, nợ nần; vì ăn uống mà
người ta sanh ra trộm cắp đủ điều, gian lận, mánh khóe; vì ăn uống mà sản
nghiệp tiêu tan; vì ăn uống mà cốt nhục tương tàn; vì ăn uống mà phải nhọc nhằn
dầm sương, dãi nắng; vì ăn uống mà phải chạy xuôi, chạy ngược, buôn tảo, bán
tần.
Bây giờ các con đã biết rõ sự dục về ăn uống là sự khổ biết là
dường nào đối với đời người! Vậy từ đây về sau, các con thường đem nghị lực
dũng mãnh chống lại sự tham ăn thích uống của
mình, miễn sao ngày một bữa, có gì ăn nấy, chỉ đủ sống mà thôi, ngon dở, nguội
lạnh không màng. Chỉ cần giải quyết được nghiệp đói của thân là đủ lắm rồi, là
đủ để được thân yên ổn, thanh tịnh, tu tập thiền
định, giải quyết luân hồi sanh tử. Đừng nay đòi món ăn này, mai đòi
món ăn khác, ai cho gì ăn nấy, ngon cũng ăn, dở cũng ăn, không khen, không chê,
không ham, không thích, chỉ ăn đủ no lòng mà thôi. Đừng có sanh tâm lý luận “Ăn
thiếu chất bổ”. Đó là cái lý luận chạy theo ăn uống.
Các con phải hiểu thân là một
khối do các duyên hợp lại mà thành, nên không có bản ngã thường hằng trong
đó. Vậy mà muôn đời người ta lầm chấp cho cái khối duyên hợp này là cái
ngã chân thật của mình. Lại có một số người cho rằng trong cái khối này có cái
“bản
thể chân
thật" của
mình trong đó. Chính vì chỗ lầm chấp đó nên luôn luôn lo bảo vệ và giữ gìn
không cho ai chạm đến. Vì thế đời người sinh ra muôn ngàn thứ đau khổ, phiền
lụy và luôn luôn tranh đấu.
Các con hôm nay cũng vậy, trải
qua hơn một năm tu học, vẫn còn chấp ngã cứng chặt khư khư, chưa chịu lìa bỏ.
Bằng chứng các con hay lí luận tranh cải và đồng thời sanh ra nhiều các duyên
mới tạo cảnh bất an, tâm chưa hết thích ăn thích ngủ. Ngày nào đó, các duyên
tan rã thì ô hô! Cái gì còn của các con? Hay chỉ còn là một khối nghiệp lực
nhân quả, thiện ác khi còn sống các con đã tích lũy từ cái chấp ngã này. Do sự
chấp ngã, các con đã tạo thành một khối nợ nần, khổ đau triền miên muôn kiếp,
không bao giờ tàn phai. Sự tiếp diễn khối nợ nần này mãi mãi luân hồi muôn đời,
muôn kiếp để trả vay, vay trả từ kiếp này đến kiếp khác. Sự tiếp diễn luân hồi
này mãi mãi muôn đời muôn kiếp để trả vay vay trả, không bao giờ tàn phai.
Các con có biết chăng, trong
cuộc đời này không có một sự việc gì xảy ra ngẫu nhiên cả. Tất cả đều có nguyên
nhân, đều có lý do. Đó là nhân quả, chứ không phải như các nhà Nho ngày xưa và
một số người ngày nay bài bác lý nhân quả, cho rằng tất cả mọi sự việc trên đời này xảy ra đều là
ngẫu nhiên. Họ còn đem ví dụ là giống như chiếc lá vàng ở trên cây kia chỉ vô
tình cơn gió ngẫu nhiên cũng đưa đẩy, những chiếc lá vàng này cái rơi xuống
đất, cái rơi xuống bùn, cái xuôi dòng nước. Đời sống nghèo đói, giàu sang của
con người cũng như vậy.
Các con có biết không? Cơn gió
không phải là ngẫu nhiên mà có được, mà phải do các duyên như mặt trời
nung đốt không khí. Không khí bị cháy, trống đi một khoảng, các không khí chỗ
khác ập vào chỗ chỗ trống đó, tạo thành cơn gió bão. Sự nghèo đói và giàu sang
của chúng ta không thể do ngẫu nhiên mà có được. Hoả hoạn, thuỷ tai, giặc giã
cướp mất sự giàu sang, để lại sự nghèo đói cho muôn người. Đây là những cận
duyên trong hiện kiếp. Còn những duyên sâu xa trong quá khứ kiếp khác nữa.
Chúng ta hãy lần theo dấu chân nhân quả mà truy tìm các duyên thì các con sẽ
thấy duyên nhân quả khởi trùng trùng dẫn dắt khối nợ nần nhân quả của kiếp
người tiếp diễn luân hồi sanh tử và đau khổ mãi mãi muôn đời.
Đức Phật đã tóm lược qua một
bài thuyết giảng Mười Hai Nhân Duyên để chỉ kiếp của một con người từ bắt đầu
sanh ra đến tan rã chẳng có gì, chỉ là vô thường
- khổ - vô ngã mà thôi. Ngài đã xác định không có một vật gì còn tồn tại trong
đó, ở thế giới này cũng như ở thế giới khác. Có dịp Thầy sẽ giảng 12 Nhân Duyên mà đạo Phật đã chỉ cho kiếp con người,
số phận của con người để các con hiểu. Phật đã đi trước, đã thấy rõ như vậy, Thầy
đi sau cũng thấy rõ như vậy, rồi đây các con cũng thấy rõ như vậy. Cuộc
đời con người chẳng có gì, chỉ là một khối Vô Minh nhân quả vay nợ đau khổ
triền miên cùng với các duyên tan hợp. Thân bằng quyến thuộc, cha mẹ, anh em
ruột thịt, vợ chồng con cái cũng chỉ là nợ nần nhân quả muôn đời muôn
kiếp. Có gì phải thương nhớ, có gì phải tiếc mong phải không hỡi các con.
Bỏ xuống đi, hãy bỏ xuống đi! Đời chẳng có gì.
“Quyết một đời
tu tập không lui,
Giữ tâm thanh
thản an vui.
Nhập Thiền
Định xa lìa nhân quả,
Đạo quả viên
thành, độ chúng vui”.
Thầy xin đọc lại chỗ này:
“Quyết một đời
tu tập không lui,
Giữ thân tâm
thanh thản an vui.
Nhập Thiền
Định xa lìa nhân quả,
Đạo quả viên
thành, độ chúng vui”.
Bây giờ các con đã thấu rõ được
hạnh ăn uống là đối tượng ly dục, diệt ngã. Từ đây về sau, các con phải cố gắng
khắc phục nó để một ngày ăn một bữa đủ sống mà thôi, nhưng các con phải nhớ
không nên ăn ít quá mà cũng không nên nhiều quá. Ăn ít là tiết thực, điều này
tai hại đến sự tu tập của các con vì sức khoẻ yếu kém. Ăn nhiều là thừa dư,
sanh dục, ham ngủ, mê muội... cũng đều tại hại đến sự tu tập và sức khỏe của
các con. Ăn ngày một bữa, nhưng tùy ở cơ thể của mình, ăn nhiều hay ăn ít mà sử
dụng cho đúng cách ăn uống để cơ thể được khỏe mạnh, để tu hành cho tốt. Đó là
một điều sáng suốt và linh động.
Các con nên nhớ: Ăn đúng cách là tu.
Tu đúng cách là làm chủ cái ăn. Đừng
thấy mọi người ăn ít vì cơ thể của họ mà chúng ta vội bắt chước ăn ít theo họ, điều
đó là tu sai. Các con phải nhớ kỹ điều này, không nên bắt chước ai, mà tùy ở cơ
thể của mình mà làm chủ được cái ăn uống của mình đó là tu hạnh ăn.
3.1.2 Hạnh ngủ
Bây giờ Thầy giảng trạch về
hạnh ngủ. Ngủ cũng là một đối tượng để chúng ta tu tập lập hạnh ngủ ly dục, mê
muội. Ngủ là một nghiệp dục
nặng của thân. Nếu thân không ngủ sẽ
sanh ra bệnh tật rồi chết, cũng giống như ăn vậy. Ngủ là một nghiệp lực thói
quen muôn đời, nó sanh ra vô minh, lười biếng, khiến cho thân tâm ta uể oải,
bần thần, mỏi mệt, dã dượi. Do đó, người ta không còn siêng năng tinh tấn, làm
việc, cũng như học hành và tu tập. Do đó, người ta thích ở không mà ăn, cho nên
mới sanh ra tánh tâm gian tham, biển lận, trộm cướp. Do đó, người ta đần độn,
ngu si, không thông minh nên không bao giờ làm việc lớn được, thường sống trong
cảnh nghèo đói.
Ngủ là một dục lạc trong năm
thứ dục lạc của thế gian, khiến người ta rất thích thú ham mê. Khi không ngủ là
họ quá sợ, nhưng khi ngủ nhiều thì lại ám độn, mê muội. Người tu hành cần phải
khắc phục nó, chiến đấu trường kỳ với nó. Vì nó là một bước cản đạo, không cho
chúng ta tiến sâu vào thiền định, không cho chúng ta tỉnh táo để phán xét mọi
việc đúng sai, thiện ác trên bước đường ly dục, ly bất thiện pháp. Chính nó không cho chúng
ta tỉnh giác, nên tâm thường ở trong tà niệm, sanh ra nhiều duyên đau khổ cho
mình cho người. Chính nó khiến cho chúng ta thiếu ý tứ, thường hay làm càn, làm
thiếu suy tư, cho nên dễ thất bại trong mọi công việc. Chính nó khiến cho ta
thiếu cẩn thận, nên thường mắc phải lỗi lầm. Chính nó khiến cho tâm ta mù mờ,
không thanh thản vì thế sanh ra loạn tưởng, trạo hối. Chính nó khiến tâm ta mất
bình tĩnh, sáng suốt, vì thế dễ sanh hờn giận, nghi nan, đau khổ,
phiền toái. Chính nó khiến cho tâm ta thu nhiếp hơi thở lờ mờ, không rõ. Chính nó khiến cho tâm ta rơi vào năm loại vô ký:
1. Vô ký hôn trầm.
2. Vô ký thùy miên.
3. Vô ký mộng tưởng.
4. Vô ký hôn tịch.
5. Vô ký ngoan không.
Chính nó lặng đi, khiến cho thân ta tọa thiền mất tự chủ, thân
nhúc nhích rung động, làm cho cơ thể bất an khó nhập chánh định, rơi vào tà
định.
Những điều Thầy đã nêu trên đây để các con thấu rõ sự tai hại
của nó đối với sự tu tập biết là dường nào! Đã biết rõ nó, các con phải cố gắng
tu tập:
1. Đi kinh hành nhiều.
2. Vừa đi kinh hành, vừa hướng tâm theo bước chân.
3. Thường xuyên nhắc tâm tỉnh giác.
4. Thường xuyên nhắc tâm chớ ham ngủ.
5. Phải nghiên cứu một điều gì để động não.
6. Phải làm một việc gì cho động thân.
7. Không được ngồi, hoặc nằm.
8. Chạy bộ, hoặc đi tắm.
9. Phải tập thể dục một
vài thế dưỡng sinh, hoặc đi một đường võ.
10. Cử tạ, đào đất.
10. Cử tạ, đào đất.
Các con nhớ kỹ: Nó là một
thứ dục lạc rất khó trị. Nên luôn luôn lúc nào cũng đề cao cảnh giác, chiến đấu
với nó bằng mọi cách, bằng cả nghị lực dũng cảm của mình. Nếu các con
không chiến đấu hết sức, nó sẽ thành thói quen lười biếng, chừng đó, các con sẽ
thất bại ê chề trong cuộc đời tu hành. (..?) là một điều rất khó vô cùng,
vậy nên lưu ý và nhớ kỹ lời dạy của Thầy, phải cố gắng tu tập hết sức để tập
luyện cho được hạnh ngủ. (...?) Xa lìa được ăn ngủ nghiêm chỉnh là xa lìa được
năm thứ dục lạc. Sự tu tập này cũng phải khéo léo và linh động. Tùy theo
sức của mình, tu tập tiến dần lên, không được ép chế không ngủ, ngủ phải đúng
giờ khắc, ngủ phải tập luyện hướng tâm ngủ, không được muốn ngủ hồi nào là đi
ngủ, muốn tu hồi nào là tu. Ngủ
đúng cách là tu tập, tu đúng cách là làm chủ ngủ. Hành động ngủ là tu, hành động tu là ngủ. Các con nhớ kĩ, phải
thuộc câu này.
3.1.3 Hạnh độc
cư
Thầy giảng trạch về hạnh độc
cư. Các con hãy lắng nghe cho kĩ, vì nó là một hạnh rất khó tu nhất trong ba
hạnh. Nghe thì như dễ dáng lắm, mà hành thì khó vô cùng. Hạnh độc cư là một
phương tiện tu tập để bảo vệ, phòng hộ, giữ gìn, hộ trì, ngăn ngừa, che chở
thân tâm được yên ổn, tránh được các ngoại duyên bên ngoài, khiến cho tâm và
cảnh an ổn, yên vui tu tập dễ dàng hơn. Độc cư còn giúp cho tâm các con có dịp
tuôn tràn bao nhiêu những ký ức, những kỷ niệm. Độc cư cũng là dịp giúp cho các
con nhận thấy được dục lạc ham ngủ, ham vui là tai hại trên đường tu tập. Độc
cư là đối tượng để các con dùng mọi phương tiện tu tập thu nhiếp thân tâm thành
khối nội lực.
Người không sống trong hạnh độc
cư được là người thường bị phân tâm. Người phân tâm là người không có sức tỉnh
thức cao, không có sức tập trung mạnh, chỉ có ức chế tâm bằng tưởng pháp. Người
thích vui bên
ngoài là người rất sợ
cô đơn, tâm thường bị phân tán theo các duyên. Tâm chúng ta có vốn từ nhân quả
mà ra, nên thường bị các duyên nhân quả chi phối. Vì thế lúc nào tâm
cũng bị phân chia tan nát, nó không hợp nhất lại được. Chỉ một vài giây hợp lại
là bị phân ra liền bởi các duyên trong ba thời gian quá khứ - vị lai
và hiện tại. Từ
ngày này suốt ngày nọ, từ năm này đến năm khác cho đến ngày tàn tạ xuống lòng
đất, tâm chúng ta đều bị phân tán liên tục. Mục đích của người tu thiền là gom
tâm lại, dù bất cứ thứ thiền nào, chỉ trừ loại thiền quán mà các nhà học giả
sản xuất ra. Bởi thế người tu thiền mà không sống trong rừng núi thanh vắng,
độc cư thì không làm sao nhập định được. Tại sao vậy? Đó là vì bốn lý do sau
đây:
1.
Vì Tâm bị phân tán.
2.
Vì Tâm không thành khối.
3.
Vì Tâm không có nội lực.
4.
Vì Tâm không tỉnh thức.
Muốn cho tâm thành khối, có đủ
nội lực dũng mãnh, để đóng mở sáu căn, để tu tập giai đoạn thứ II của Thiền
định là DIỆT thì phải sống Độc cư một trăm phần trăm.
Muốn tu tập sống hạnh độc cư
các con phải tu tập ba giai đoạn:
- Giai đoạn thứ nhất: Sống tập
ít nói chuyện.
- Giai đoạn thứ hai: Tập sống
riêng, làm việc riêng một mình.
- Giai đoạn thứ ba: Tập sống
riêng, không làm việc.
Ở đây Thầy sẽ giảng trạch phần
thứ nhất của hạnh độc cư là tập sống ít nói chuyện để các con hiểu rõ, tu tập
không sai lệch. Khi nào các con tu tập xong phần thứ nhất, Thầy sẽ giảng trạch
phần thứ hai, tức là tập
sống riêng, làm việc riêng một mình. Khi
nào tu tập phần thứ hai xong, Thầy sẽ giảng trạch phần thứ ba: tu tập sống riêng, không
làm việc. Nếu
giảng trạch ngay bây giờ luôn cả ba phần thì các con sẽ bị rối rắm, không biết
cách thức tu, cách thức nào tu tập cho đúng.
Ở giai đoạn một sống độc cư là
tập ít nói chuyện. Muốn tập ít nói chuyện các con phải biết, phải lựa chọn
chuyện gì cần thiết thì mới nói, mới thưa hỏi, không cần thiết thì không được
hỏi, không được nói. Chỉ duy nhất
là thưa hỏi về chuyện tu tập, và
phải thưa hỏi riêng để được lắng nghe kỹ, còn thưa hỏi chung trong tập
thể thì rất là khó lắng tâm theo sự hướng dẫn của thiện tri thức. Thưa hỏi
về sự tu tập là mục đích để hiểu cho rõ, để thực hành cho đúng. Còn ngoài ra
tất cả những chuyện khác phải cẩn thận khi muốn nói ra.
1. Tránh nói chuyện tào
lao, nhảm nhí.
2. Tránh kết tình, kết bạn
thân.
3. Tránh nghe chuyện của
người khác, vì chuyện người khác khiến phải nói ra.
4. Tránh gặp nhau, vì gặp nhau
dễ sanh nói chuyện. Nhưng gặp nhau thì không nói chuyện là tốt nhất.
5. Không được đem sự hiểu biết
tu hành của mình dạy người khác khi mình tu chưa xong.
6. Thấy bạn bè tu sai, nên báo cho thiện tri thức biết
để sửa lại, không được đến dạy bảo vì đến dạy bảo làm động mình, động người và
thành quen thuộc với nhau nên không thể giữ trọn vẹn hạnh độc cư được.
7. Thấy bạn đồng tu buồn khổ,
không được đến an ủi, chia sẻ. Chỉ cần báo thiện tri thức đến giúp đỡ.
8. Tránh đổ lỗi người khác, vì
đổ lỗi người khác là tạo duyên bất an trong tâm, thường xảy ra duyên cải cọ,
tranh luận.
9. Tránh đi đến thất của người
khác vì đi đến thất của người khác
làm động mình, và làm động tâm người.
10. Làm lao động chung, tránh
nói chuyện cười đùa.
11. Khi giúp bạn đồng tu đang
bệnh, tránh nói chuyện ngoài vấn đề thăm bệnh. Tốt hơn hết là chỉ hỏi thăm bệnh
để dùng phương tiện trị liệu.
12. Khi làm việc chung một
việc gì nên làm theo ý muốn của người khác để tránh duyên cãi cọ, đổ
thừa.
13. Thường tập sống thơ thẩn
một mình.
14. Luôn giữ tâm thanh thản và
hướng tâm đến thanh thản.
15. Thường giữ tâm vô sự, và
hướng tâm đến vô sự.
16. Thường tránh xa các duyên
để giữ tâm không bị phân tán.
17.Không nên đem tâm sự của
mình nói cùng ai, ngoài người Thiện hữu tri thức của mình.
18. Thấy việc làm nặng nhọc,
cùng nhau chia sẻ làm, nhưng không nói chuyện.
19. Thấy ai làm chưa xong, cùng
làm phụ, nhưng không nói chuyện.
20. Thường sống im lặng trong
và ngoài tâm, và hướng tâm đến sự im lặng.
20 điều trên đây để giữ tâm im
lặng. Điều tốt nhất là tránh xa, tránh xảy ra các duyên, tránh tạo các duyên
mới. Càng tránh duyên bao nhiêu thì tâm càng ít phân chia ra bấy nhiêu. Càng cố
tránh duyên tâm càng dễ hợp nhất thành khối; càng cố tránh duyên thì hoàn cảnh
mới thanh tịnh yên vui tu hành. Càng tiếp duyên, càng động, khiến cho hoàn cảnh
bất an, khó tu hành. Càng tiếp duyên, tâm càng bị phân chia khó thành nội lực,
tu tập sẽ dẫm chân tại chỗ, không tiến bộ.
Các con nên biết độc cư ở giai
đoạn I là tịnh khẩu. Tịnh
khẩu nghĩa là nói lời thanh tịnh, không nói lời bất tịnh. Nói lời thanh
tịnh là nói lời thiện, nói lời thiện là nói lời vui lòng mình, vui lòng
người. Nói lời bất tịnh là nói lời ác. Nói lời ác là nói lời làm đau khổ mình
và đau khổ người. Tịnh khẩu không phải là á khẩu, tịnh khẩu là nói
lời lành, không nói lời dữ như Thầy đã giảng ở trên. Á khẩu là câm, không nói
được.
Khi nghe được đến đây, các con
đã nghe hiểu rõ độc cư ở giai đoạn thứ nhất là tịnh khẩu, không phải á khẩu. Ở
giai đoạn tu tập này, phải hiểu cho thật rõ, nếu chưa hiểu phải hỏi lại cô Út
Diệu Quang cho kỹ, không khéo các con tu hành trở thành hình thức, ít nói mà
lại nói rất nhiều. Nghĩa là chuyện gì các con cũng nói, khi tâm bung ra, phân
tán nói thôi không hết, như nước vỡ bờ.
Hạnh độc cư khó lắm. Nó là bí quyết thành công của thiền định.
Nó có ba nhiệm vụ:
1. Bảo vệ tâm tránh các duyên.
2. Gom tâm hợp nhất thành khối.
3. Làm cho tâm tuôn tràn ra hết.
Sáu năm trời khổ hạnh của đức
Phật Thích Ca là sáu năm tu tập ly dục của đức
Phật. Nhờ đó đức Phật đã tránh được
các duyên, thu nhiếp thân tâm thành khối nội lực. Khi tâm đã thành khối có nội
lực, đức Phật đã xả bỏ khổ
hạnh tối đa, chỉ giữ lại khổ hạnh bình thường như năm anh em ông Kiều Trần Như,
chỉ có hơn họ là dùng thêm sữa do cô bé chăn dê cúng dường. 49 ngày dưới cội bồ
đề, đức Phật dùng nội lực nơi
tâm đã có sẵn, đem ra chiến đấu ly bất thiện pháp. Lúc bấy giờ đức Phật gọi là hàng phục Ma
Vương, diệt tầm tứ, đóng mở sáu căn, nhập Nhị thiền,
và xả bỏ thân tâm nhập Tứ thiền,
hướng đến Tam minh thành tựu đạo giải thoát.
Tóm lại, ly dục là lìa xa cái ý
muốn của mình. Khi mình còn làm theo ý muốn của mình tức là chưa lìa xa.
Bởi nghe nói ly dục thì rất dễ dàng, mà lìa xa ý muốn của mình rất là khó khăn.
Bậc Thánh như Đức Khổng Phu Tử đến 70 tuổi Ông mới dám tuyên bố: “Ta đến tuổi
này mới làm theo ý muốn của mọi người”. Nghĩa
là đến 70 tuổi, Ông mới ly dục được tâm ông. Thầy nghĩ rằng muốn ly dục ít
ra cũng phải ba năm rèn luyện. Còn
nếu tu lơ mơ thì 30 năm cũng chưa chắc đã là làm được. Cái ý muốn của mình là cái gì?
Là bản ngã. Bản ngã không ly thì làm
sao có Niết bàn? Vô ngã là Niết bàn.
Đi tu cũng như đi học. Ở đời,
người ta học tập đến nơi đến chốn mới có lợi ích cho mình, cho người, cho xã
hội. Người học mà không đến nơi đến chốn chẳng lợi
ích gì cho mình, còn làm cho xã hội phải gánh nặng thêm. Người đi
tu cũng vậy, tu không đến nơi, đến chốn làm bại hoại tôn giáo. Người tu
đến nơi đến chốn làm sáng tỏ Phật Pháp qua gương hạnh sống của mình, khiến cho
mọi người quy ngưỡng tôn kính Phật Pháp. Chúng ta quyết chọn lấy con đường tu, là phải tu đến nơi đến
chốn, không thể tu lừng chừng, vì tu lừng chừng không lợi ích cho mình, cho
người mà còn có làm hại người, hại tôn giáo. Các con đến đây là mục đích quyết
tâm tu, chứ không phải đi tìm cái sống. Phật đã dạy: “Tu là phải
lìa xa ý muốn của mình”. Đã tu thì phải quyết tâm buông bỏ, bỏ để được giải thoát, bỏ để
được thảnh thơi, an vui một đời. Mà bỏ cái gì đây? Bỏ ý muốn.
Đến đây Thầy xin nhắc lại, giai
đoạn thứ nhất của Thiền định là giai đoạn Ly. Như Thầy đã dạy ở giai đoạn
này, chia ra làm hai phần tu tập:
1. Ly dục.
1. Ly dục.
2. Ly bất thiện pháp.
Phần thứ nhất ở giai đoạn này
Thầy đã giảng trạch xong, nghĩa là muốn ly dục, chúng ta dùng ba hạnh ăn - ngủ
- độc cư để tu tập. Như các con
hiểu rõ, ăn - ngủ - độc cư là đối tượng để tu tập, khắc
phục cho bằng được tâm ly dục. Nếu các con đã sống đúng ba hạnh thì các con đã
ly được dục, nếu chưa sống được ba hạnh, thì các con hãy cố gắng tu tập hơn để
hoàn thành được phần thứ nhất: ly dục.
Phần ly dục này, ai cũng biết đức Phật Thích Ca Mâu Ni phải 6 năm khổ hạnh như Thầy đã dạy ở trên.
Đến phần thứ hai là ly bất
thiện pháp, Thầy sẽ giảng trạch cho các con để hiểu rõ cách thức tu tập như thế
nào đúng.
Tóm lại, buổi nói chuyện hôm
nay các con nên nhớ, chúng ta là những tu sĩ của đạo giải thoát thì thời gian
nào, ngày nào, tháng nào, năm nào toàn là mùa Xuân, mùa Xuân vĩnh cửu trong tâm
hồn của chúng ta, mùa Xuân không có nhân quả, mùa Xuân không có diễn biến luân
hồi. Vì
thế chúng ta không có chúc thọ, không có mừng tuổi mùa Xuân thế gian. Hãy
sống bình thường, hãy giữ tâm bình thường trước mọi diễn biến thay đổi của
không gian và thời gian bằng một tâm hồn thanh thản.
Bây giờ các con ăn cơm để muộn,
ngày mai Thầy sẽ giảng phần thứ hai ly bất thiện pháp. Nhưng trước khi ăn cơm,
các con hãy lắng nghe bài hồi hướng.
3.2
PHẦN II: LY BẤT THIỆN PHÁP
Bây giờ Thầy bắt đầu giảng trạch phần thứ 2 trong giai đoạn 1
của thiền định. Các con hãy lắng nghe cho kỹ, chỗ nào chưa thông suốt thì ghi
chép lại rồi thưa hỏi cô Diệu Quang, để khi bắt đầu tu tập là phải tu tập cho
đúng cách, không được tu hành sai như năm rồi. Phần thứ 2 trong giai đoạn 1 của thiền định là ly bất thiện pháp.
Ly là gì? Ly nghĩa là lìa xa, rời xa. Bất thiện pháp là
gì? Bất thiện pháp là tham, sân, si, mạn, nghi, những thói quen, tật xấu,
những điều suy nghĩ, những lời nói, những hành động của thân và làm mọi việc
đem đến cho mình khổ, người khác khổ. Bất thiện pháp còn gọi là pháp
ác, pháp hung dữ, pháp khổ đau. Vậy, muốn lìa
xa các pháp ác thì các con phải rèn luyện, tu tập mình bằng ba đức:
1. Nhẫn Nhục.
2. Tùy Thuận
3. Bằng Lòng.
Các con nên lưu ý ba đức tính giải thoát này là để lìa xa các
pháp ác, rất là khó tu.
1. Nếu không biết rõ tu
tập cho đúng cách thì sẽ hoài công, vô ích.
2.
Nếu không đủ nghị lực, bền chí, gan dạ, kiên trì, thì cũng bỏ cuộc giữa
đường tu hành.
3. Nếu
không cầu xin pháp chỉ thẳng, đập thẳng, đánh mạnh mẽ của Thiện hữu tri thức
thì cũng khó lập được ba đức này vững vàng.
Thầy
thường nhắc nhở với các con: nhẫn một việc
nhẫn khó nhẫn, làm một việc làm khó làm đó
là nhắc các con ly dục, ly bất thiện pháp. Để vào
thiền định là một việc tu tập rất khó vô cùng. Cũng như Thầy đã dạy, đường đi
khó là vì chưa biết đường, các con bây giờ cũng vậy, khi chưa biết cách tu giải
thoát mà cứ tu theo kiến giải, tưởng giải của các nhà học giả thì đó
là đường đi khó, vì chưa biết đường. Cố đi mà đường chẳng thu ngắn lại, vẫn mờ
mịt vì đi loanh quanh, lòng vòng, mà chẳng có lối ra.
Khi đã biết
đường, thì dù đường đi có khó đến đâu, nhưng vẫn đến đích. Cũng như bây giờ,
các con đã biết rõ cách tu thì sự tu tập có khó đến đâu các con cũng sẽ thành
tựu, vì mỗi bước đi của các con là quảng đường sẽ thu ngắn lại.
Trước khi bắt
tay vào việc tu tập cụ thể ở phần II này, ly ác pháp, thì các con phải tu
tập dứt điểm ở phần I là ly dục. Nghĩa là, các con phải hoàn thành tâm mình ly
dục hoàn toàn, nghĩa là diệt ngã. Vì thế, bây giờ Thầy sẽ giảng trạch rõ người ly dục dứt điểm và không dứt điểm để các con hiểu tu
tập cho đúng cách:
- Nếu một người chưa ly dục hoàn toàn mà vội ly ác pháp thì đó
chỉ là một hành động điên rồ, tu tập nén tâm, chịu đựng, an phận.
- Nếu một người còn đang sống trong cảnh dục lạc thế gian, tâm
chưa ly dục mà thường theo học hỏi những thiện pháp trong kinh sách,
đó chỉ mới là gieo chủng tử ly
dục, ly ác pháp của đạo giải thoát mà thôi. Chớ không phải sự học hỏi đó, sự
hiểu biết đó là ly dục, ly bất thiện pháp được.
- Nếu một người còn đang sống
trong cảnh dục lạc thế gian, tâm chưa ly dục mà thường theo học hỏi những
điều thiện pháp trong kinh sách để tích luỹ sự hiểu biết các pháp giải
thoát của Đạo Phật thì người này sẽ nuôi lớn lớn bản ngã, chứ không ly dục, ly
ác pháp được.
- Nếu một người còn đang sống trong cảnh dục lạc thế gian, tâm
chưa ly dục mà thường học hỏi những thiện pháp trong kinh sách để làm kiến giải
riêng của mình, rồi dùng đó để tu quán xả ly ác pháp và tâm ham muốn của mình, thì không bao giờ ly dục, ly ác
pháp được, mà đó chỉ là lối tu tập đè nén tâm mình, hoặc tránh né hay trốn chạy
tâm ham muốn và ác pháp mà thôi.
- Nếu một người còn đang sống
trong cảnh dục lạc thế gian mà tu Thiền định thì chẳng bao giờ có nhập được
định. Nếu có nhập được thì chỉ
rơi vào tà thiền, tà định mà thôi.
Bởi vậy, nếu một người tâm còn sống trong dục lạc thế gian mà tu
đức nhẫn nhục, thì chẳng nhẫn
nhục được gì, mà ngược lại, đó là lối tu tập nén tâm làm cho tâm thêm đau khổ.
- Nếu một người dùng hình thức
bề ngoài để ly dục, mà tâm không ly dục, vội tu đức nhẫn nhục, thì cũng chẳng
tu nhẫn nhục được gì. Trái lại còn thêm tâm hồn đau khổ. Như các con
đã từng nói sự tu hành xả tâm phải “bằng máu và nước
mắt”. Đó là tu sai, do nén
tâm chịu đựng mà thấy sự khổ như vậy.
Thầy nhắc lại để các con
hiểu, ly dục là lìa xa cái tâm ham muốn, chứ không phải ly vật dụng. Một người sống ở rừng núi chẳng
có vật dụng gì, như loài khỉ, vượn, người này ly vật dụng, chứ không ly tâm
dục. Loài vật cũng vậy, ly vật dụng, chứ không phải ly tâm dục của nó.
- Người nghèo khó không có
một vật tùy thân, không phải người này là ly dục.
- Một người có đầy đủ vật
chất trên thế gian này nhưng không dính mắc vào những vật chất đó, thì đó là
người ly dục.
- Người ăn thực phẩm dở mà
không đòi ăn thực phẩm ngon, không thích ngon, không chê dở, đó là người ly dục.
- Người ăn thực phẩm ngon mà không đòi ăn thực
phẩm dở, đó là người ly dục.
- Người ăn thực phẩm dở mà đòi ăn thực phẩm ngon là người không ly dục. Ngược lại
cũng vậy.
- Người không thèm thực
phẩm này, thực phẩm khác là người ly dục.
- Người còn thèm ăn cái
này, cái khác là người chưa ly dục.
- Người ở trong cảnh động
mà không đòi ở cảnh tịnh là người ly dục.
- Người mặc chiếc áo đạo,
xuất gia tu hành mà tâm còn ham muốn cảnh thế gian là người chưa ly dục.
- Người xuất gia tu hành
mà tâm còn làm những việc cầu danh ở thế gian là người chưa ly dục.
- Ở trong cảnh động, cảnh
chướng tai gai mắt mà không bị động, không gai mắt, không chướng tai là người
ly dục.
- Người nào luôn giữ tâm
được thanh thản là người ly dục.
- Người không giữ được tâm
thanh thản, tâm hay sanh chuyện này chuyện kia là người chưa ly dục.
- Người thấy người có áo
mới mà đòi hỏi áo mới là người chưa ly dục.
- Người thấy người khác có
áo mới mà không đòi hỏi áo mới
là người sống an phận thủ thường, chưa phải là người ly dục.
- Người thấy người khác có
áo mới, mình cũng có áo mới mà không ham thích là người ly dục.
- Người đứng núi này trông
núi nọ là người chưa ly dục.
- Người sống trong cảnh tu
hành này mà đòi hỏi cảnh tu hành khác là người chưa ly dục.
- Người sống trong hoàn
cảnh này mà đòi ở hoàn cảnh khác là cũng người chưa ly dục.
- Người sống trong hoàn
cảnh này mà vui trong hoàn cảnh này là người ly dục.
Còn biết bao nhiêu điều so sánh về vấn đề ly dục và không ly
dục. Ở đây, Thầy chỉ nêu ra một vài vấn đề cụ thể để các con hiểu
rõ trong khi tu tập ly dục cho đúng cách [1].
Bây giờ Thầy trở lại bài giảng Ly Bất Thiện Pháp. Muốn tu tập ly
bất thiện pháp thì ta phải dùng ba đức:
1. Nhẫn nhục
2. Tuỳ thuận
3. Bằng lòng
Muốn tu tập ba đức nhẫn nhục -
tùy thuận - bằng lòng thì phải đứng trước mọi hoàn cảnh,
mọi sự vật, mọi đối tượng, các con phải tu tập Pháp hướng tâm, còn gọi là pháp
dẫn tâm.
Pháp hướng tâm như thế nào?
Pháp hướng tâm là pháp dẫn tâm vào một lý chân chính, giải thoát của đạo. Pháp
chân chính giải thoát của đạo là gì? Pháp chân chính giải
thoát của đạo là chỉ thẳng vào mọi duyên, mọi hoàn cảnh, mọi đối tượng, mọi sự
việc xảy ra đều hiểu biết rõ nó là vô thường, khổ, và không có thực thể bản ngã
trong đó; do các duyên hợp lại mà thành, và duyên tan là mất hết, không còn có
cái gì tồn tại. Khi đã hiểu rõ như vậy và thấy rõ như
thật, thì dùng Pháp hướng mà
nhắc tâm như vầy:
1. “Cái
tâm từ đây về sau không
được kiến chấp các duyên là thật, mà phải thấy nó vô thường, khổ, vô ngã". Nên không còn phiền
não, đau khổ trong tâm không còn nữa.
2. “Các
duyên tan hợp theo nhân quả, diễn biến luân hồi nên không có thật thể bản ngã,
toàn là vô thường, khổ, vô ngã. Vậy
từ đây về sau cái tâm không được chấp duyên là ngã, mà hãy bỏ xuống đi, không
còn được giận hờn, phiền não, đau khổ."
3. “Đời
sống của con người là duyên tan hợp của nhân quả, cho nên không có bản ngã chân
thật, toàn là vô thường và đau khổ. Vậy từ đây cái tâm phải bỏ xuống, không
được chấp cái ta nữa, vì chấp cái ta là tạo thêm đau khổ và ác pháp trong tâm”.
4. “Ai
theo các duyên nhân quả, tạo ác, là phải thọ lấy cái quả khổ, ta không dại gì
đem khổ vào thân. Từ nay, cái tâm hãy bỏ xuống đi để được an vui, thanh thản”.
Các con hãy cố gắng động não, triển khai những trí tuệ nhân quả,
duyên tan hợp để thấu rõ lý Vô Thường, Khổ, Vô Ngã của đạo thì chừng đó các con
mới nhẫn nhục, tuỳ thuận, bằng lòng được. Đây là pháp dẫn tâm, lập đức nhẫn
nhục, dẫn tâm vào tam ấn của Đức Phật theo duyên tan hợp, diễn biến luân hồi
của nhân quả. Khi có một niệm khởi ra trong đầu thì các con mau dẫn
tâm vào lý giải thoát, giữ tâm thanh thản. Muốn giữ
tâm cho được thanh thản các con phải nhắc tâm như thế này khi có một niệm tào
lao khởi lên:
1. “Cái tâm phải thanh thản, không
được nghĩ ngợi tào lao,vì nghĩ ngợi tào lao thì tâm bị phân chia ra tan nát khó
mà vào thiền định được”.
2. Khi
biết tâm mình thường dễ giận hờn, phiền não, đau khổ thì phải dẫn tâm như thế
này: “Cái tâm phải thanh
thản, không được giận hờn, đau khổ, phiền não nữa, vì đau khổ, phiền não là các
pháp ác”.
3. Khi
có một niệm thương nhớ, lo sợ thì phải dẫn tâm như thế này: “Cái tâm thanh thản, không được thương nhớ, lo sợ vì các pháp đều là do
duyên tan hợp theo nhân quả nên không có gì là của mình. Vậy hãy bỏ xuống, đừng
thương nhớ lo sợ, vì thương nhớ lo sợ là ác pháp, là pháp làm đau khổ trong tâm
hồn của mình”.
4. Khi tâm không có niệm khởi, đang ở trong trạng thái thanh
thản, thì hãy dẫn tâm như thế này: “Cái tâm phải thanh thản trong trạng thái thanh thản, vì có thanh thản
thì tâm mới có nội lực. Tâm có nội lực thì mới nhập thiền định”.
Trên đây là pháp hướng tâm thanh thản để giữ tâm thanh thản.
Muốn giữ tâm thanh thản thì phải nương vào hơi thở tuỳ tức, thỉnh thoảng lại
nhắc tâm thanh thản một lần. Trên đây là giữ tâm thanh thản trong hơi thở. Lúc
nào, giờ nào, ngày nào, hễ có rảnh là dẫn tâm vào thanh thản. Đó là
tu pháp hỷ, mà cũng là chính cách thức dẫn tâm trong trạng thái thanh thản này
là dẫn tâm tập nhập Sơ thiền, để lập đức nhẫn
nhục, ly ác pháp. Tâm có thanh thản thì tâm mới có bình tĩnh, sáng suốt. Tâm có
bình tĩnh sáng suốt thì tâm mới có nhẫn nhục được. Tâm nhẫn nhục được thì tâm
mới có tuỳ
thuận. Tâm có tùy thuận được thì tâm mới có bằng lòng. Tâm có bằng lòng được
thì tâm mới xả được. Tâm có xả được thì tâm mới được ly ác pháp. Tâm có ly được
ác pháp thì tâm mới có an vui, hạnh phúc. Tâm có an vui hạnh phúc là tâm nhập
Sơ thiền.
Trên đây là pháp hướng dẫn tâm thanh thản để ly các ác pháp,
nhập Sơ thiền lập đức nhẫn nhục.
3.2.1 Đức nhẫn nhục
Bây giờ Thầy dạy các con tu tập
pháp ý tứ, ly ác pháp, lập đức nhẫn nhục.
1. Bắt đầu các con tu tập ý tứ,
ý hành niệm. Khi tâm khởi một niệm, các con phải quan sát niệm đó, phân tích,
tìm nguyên nhân và mục đích của nó, nó đến với các con với sự việc gì? Khi thấu
rõ các pháp ác thì nó đều tan biến. Đây gọi là tu tập ý tứ, ý hành niệm,
ly ác pháp, lập đức nhẫn nhục.
2. Khi các con muốn nói ra một
lời nào đó, thì các con phải khởi ra một ý niệm trước. Khi ý niệm khởi xong,
các con quan sát ý niệm đó, tìm nguyên nhân, mục đích của nó. Khi đã thấu rõ ý
niệm đó, các con mới nói ra lời. Đây là tu tập ý tứ khẩu hành niệm để ly bất
thiện pháp lập đức nhẫn nhục.
3. Khi thân các con muốn làm
một điều gì thì các con phải khởi ra ý niệm của việc làm đó, rồi cũng tìm ra
nguyên nhân, mục đích của nó. Khi đã tìm xong, biết đó là thiện pháp thì bắt
đầu thân mới làm việc. Đó là tu tập ý tứ thân hành niệm để ly các ác pháp, để
lập đức nhẫn nhục.
4. Khi thân làm việc gì, thì
phải ý tứ cẩn thận, kỹ lưỡng trong việc làm đó, không làm bừa bãi, không làm
dối trá. Đây là tu tập cẩn thận ý tứ kỹ lưỡng thân hành niệm để ly bất
thiện pháp, thực hiện đức nhẫn nhục.
5. Khi tu tập ý tứ ý hành niệm,
khẩu hành niệm, và thân hành niệm thì dùng tư tuệ quán sát ý niệm, lời nói,
việc làm, biết rõ đúng sai, thiện ác, có lỗi, không lỗi, phạm giới không phạm
giới, diệt ngã hay nuôi ngã, xả tâm hay dính mắc v.v… Đây là tu tập triển khai
tư tuệ trong ý hành niệm, khẩu hành niệm, thân hành niệm để ly dục, ly ác pháp,
để tu luyện tập đức nhẫn nhục.
Tóm lại, đức nhẫn nhục giúp cho con trở
thành người hiền hoà, bình tĩnh và sáng suốt;
ôn tồn, nhã nhặn và từ ái. Nó giúp cho con người từ phàm phu trở thành bậc
Thánh nhân. Đức nhẫn nhục giúp
các con xa lìa các ác pháp trong và ngoài tâm, diệt sạch bản ngã, tiêu trừ tánh
hung ác, nham hiểm, tỵ hiềm, ganh ghét. Đức nhẫn nhục còn mang đến cho các con
một niềm an vui, an lạc hạnh phúc đời đời, không còn biết sợ hãi, oán thù ai
hết. Đức nhẫn nhục còn mang đến cho các con những lời nói hiền hòa, những hành
động nhẹ nhàng, êm ái; những ánh mắt dịu hiền, đầy lòng thương yêu đối với mọi
người. Đức nhẫn nhục đi đến đâu thì chuyện lớn thành chuyện nhỏ, chuyện nhỏ mất
tiêu và thường mang đến nguồn an vui ở đó. Đức nhẫn nhục đi đến đâu thì an lạc
đi đến đó cho mọi người.
Đến đây Thầy xin dừng lại, hôm
nào có dịp Thầy sẽ xin giảng tiếp để các con tu tập đức tùy thuận.
3.2.2 Đức tùy thuận
Bây giờ Thầy giảng trạch đức tùy thuận để các con hiểu rõ
hơn.
Đức tùy thuận là một phương
tiện ly bất thiện pháp, xả ngã rốt ráo. Nếu một người còn chấp một chút ngã cũng không tu tập đức tùy
thuận đúng cách được. Ở đời, người ta ai cũng muốn làm thầy thiên hạ, chỉ huy
thiên hạ, luôn luôn thấy mình hay, giỏi hơn thiên hạ, nên ít ai tùy thuận ai
được. Bởi tùy thuận là một đức hạnh cao quý để xây dựng, rèn luyện con người
trở thành người khiêm hạ, luôn luôn biết làm cho người khác vui lòng. Nó cũng
xây dựng, rèn luyện con người thành người có ý tứ trong công việc làm, không để
cho thất bại. Nó cũng xây dựng, rèn luyện con người trở thành người biết tôn
trọng ý kiến của người khác. Nó cũng xây dựng, rèn luyện con người thành người
biết học hỏi cái hay cái dở của người khác. Nó cũng xây dựng, rèn luyện con
người trở thành người sáng suốt và bình tĩnh trước mọi ý kiến của người khác.
Điều quan trọng nhất trong sự
tu tập đức tùy thuận là xây dựng rèn luyện con người để trở thành người đầy đủ
nghị lực, gan dạ, chấp nhận mọi ý kiến người khác, để trở thành người nhỏ nhất,
mà cũng là người lớn nhất.
Vậy, đức tùy thuận là gì?
Tùy là dựa theo, làm theo.
Thuận là hòa thuận, không chống trái nhau. Tùy thuận là dựa theo, làm hòa hợp
với ý kiến, việc làm của người khác, mà không chống trái nhau. Ở đời, vì thiếu
đức tùy thuận lẫn nhau, ai cũng cố chấp ngã, chấp kiến nên mới sanh ra biết bao
nhiêu sự chống trái lẫn nhau, tạo nên cảnh nghịch ý trái lòng. Do đó gây ra
biết bao ác pháp, khiến cho mình khổ, người khổ. Vì thế, chúng ta là những tu
sĩ của Đạo Phật phải cố gắng tu tập và rèn luyện đức tùy thuận. Muốn rèn luyện
và tu tập đức tùy thuận để ly ác pháp và diệt bản ngã thì các con phải luôn
luôn thực hiện:
1. Làm theo ý muốn của người
khác, bất cứ người nào, ở giới nào, giai cấp nào, già hay trẻ, bé hay lớn, nam
hay nữ, sang hay hèn, hay vua quan trong xã hội. Đó là tu tập đức tùy thuận, ly
ác pháp, xả ngã.
2. Không được làm theo ý kiến
của mình, dù ý kiến của mình có đúng một trăm phần trăm. Đó là tu tập đức tùy
thuận, ly ác pháp, xả ngã.
3. Làm theo ý kiến của thiện
hữu tri thức mà không làm theo ý kiến của mọi người, thì đó không phải là tu
tập đức tùy thuận, ly ác pháp. Đó là tu tâm sợ hãi. Ở đây chúng ta phải hiểu,
làm theo ý của thiện hữu tri thức mà không làm theo ý của mọi người khác là tu
tập tâm sợ hãi; làm theo ý của thiện hữu tri thức và cũng làm theo ý của mọi
người khác, đó mới chính là tu tập đức tùy thuận, ly ác pháp, xả ngã.
4. Trước khi muốn làm việc gì
đều thưa hỏi thiện hữu tri thức và mọi người khác, không được tự ý làm. Vì có
tự ý là có hành động nuôi dưỡng bản ngã và ác pháp. Như thế thì không thể
nào tu tập đức tùy thuận được.
5. Khi thưa hỏi xong, phải làm
đúng ý của mọi người. Đó là tu tập đức tùy thuận, ly ác pháp, diệt ngã.
6. Khi thưa hỏi xong để tu tập
đức tùy thuận, nhưng khi làm có sự sơ sót, bị la rầy, liền tức khắc chuyển sự
tu tập tùy thuận qua tu tập đức nhẫn nhục, để ly ác pháp. Có như vậy gọi
là tu tập đức tùy thuận trong đức nhẫn nhục.
7. Luôn luôn phải tôn kính mọi
ý kiến của người khác, vì có tôn kính ý kiến của người khác ta mới tùy thuận
được ý kiến của người khác mà không làm theo ý kiến của mình. Đó gọi là ly dục,
ly bất thiện pháp.
Điều quan trọng và cần thiết
cho sự tu tập này là phải luôn luôn tỏ lòng tôn kính mọi ý kiến và việc làm của
người khác. Đó là những ý kiến và việc làm đúng, còn những ý kiến và việc làm
sai của họ thì chúng ta tùy thuận nhưng không để bị lôi cuốn. Tùy thuận là để
ly ác pháp, nhưng không để lôi cuốn trong ác
pháp. Bởi vậy, tu tập đức tùy thuận rất khó, tùy thuận mà không bị lôi cuốn là
một việc làm rất khó khăn vô cùng, không phải việc dễ làm. Chỉ có sống độc cư,
tránh các duyên, và bảo vệ tâm, giữ gìn sáu căn thì mới ly dục ly ác pháp dễ
dàng mà thôi.
Đức tùy thuận có hai chiều, tùy
thuận người mà con phải tùy thuận ở mình nữa. Như Thầy đã dạy, tùy thuận là tôn
kính mọi ý kiến, mọi việc làm của người khác. Còn tùy thuận ở mình mà tôn kính
như vậy thì không khéo mình lại nuôi tâm ham muốn, chạy theo dục, nuôi ác pháp,
nuôi ngã mình. Tùy thuận mình là tùy thuận ở sức lực, ở khả năng, không nên làm
quá sức, vượt khả năng của mình. Không khéo tùy thuận mình để trở thành lười
biếng, không khéo tùy thuận mình để thành nuôi dục, nuôi ngã. Điều quan trọng
này các con lưu ý.
Khi giảng đến đây, các con đã
hiểu đức tùy thuận là để ly ác pháp, diệt ngã. Mục
đích của nó không phải ở ý kiến và việc làm, mà chính là để được tâm hồn giải
thoát, an vui, thanh thản; và cũng là bước đầu ngăn chặn và chấm dứt các duyên
nhân quả, không cho tiếp diễn theo nghiệp lực của nó.
3.2.3 Đức bằng lòng
Bây giờ Thầy dạy các con đức
bằng lòng. Đức Bằng lòng tu tập rất khó. Nếu chưa hiểu cách tu, thì dù các
con có thực hiện được đức Nhẫn nhục, đức Tùy thuận mà tâm chưa bao
giờ bằng lòng thì chẳng được an ổn, yên vui.
Tâm các con chưa được an ổn yên
vui thì tâm còn trong ác pháp, trong tâm dục.
1. Muốn tu tập đức bằng lòng thì phải lập hạnh tôn
kính, kính trọng mọi người. Xưa, Ngài Thường Bất Khinh Bồ Tát lập hạnh kính
trọng mọi người, ông gặp ai lớn hay nhỏ, giàu sang hay nghèo đói, vua chúa hay
quan dân, ...ông cũng đều cúi đầu
đảnh lễ như đức Phật.
Nhờ tu hạnh tôn kính nên tâm hồn ông lúc nào cũng ly được ác pháp, đời sống ông
thanh thản, an vui trong đức bằng lòng. Vì có bằng lòng, mọi duyên, mọi đối
tượng, mọi hoàn cảnh, mọi việc làm đều xa lìa các ác pháp, được giải thoát
thành Phật.
2. Muốn tu tập đức bằng lòng thì phải có Chánh
kiến. Muốn có chánh kiến thì tâm phải ly dục, ly bất thiện pháp. Nhưng bây giờ
tâm các con còn chưa ly dục, ly bất thiện pháp, còn đang tu tập đức Bằng lòng
để ly ác pháp thì tâm các con làm sao có Chánh kiến được? Không có chánh kiến
thì làm sao phán xét mọi người đúng - sai? Không có chánh kiến thì làm sao hiểu
người, hiểu mình bằng chánh kiến được. Vì vậy, muốn tu tập đức bằng lòng cho
đạt được chỉ có con đường duy nhất là phải can đảm, dũng mãnh nhìn nhận tất cả
ý tưởng, lời nói, việc làm của người khác là đúng, là tốt, là thiện. Nhờ thế,
các con sẽ thực hiện được đức bằng lòng dễ dàng.
Như Ngài Thường Bất Khinh Bồ
Tát, dù người đó hung ác, dù người đó ngu khờ, dù người đó đê hèn nhất trong xã
hội, Ông vẫn kính trọng mọi người như tôn kính Đức Phật. Đó là hạnh bằng lòng,
để thực hiện sự giải thoát trong tâm của mình. Khi thực hiện được đức bằng lòng
thì các con đã ly được ác pháp trong, ngoài tâm. Ly được ác pháp trong, ngoài
tâm thì bây giờ các con mới có Chánh kiến.
Thầy
đã dạy: chỉ có tâm ly dục – ly ác pháp
mới hiểu được mình, được người bằng Chánh Kiến.
Tóm lại, muốn tu tập ba đức, ba
hạnh ăn - ngủ - độc cư, nhẫn nhục - tùy thuận - bằng lòng để ly dục, ly bất
thiện pháp, điều cần thiết và quan trọng nhất là phải triển khai trí tuệ vô sư,
ly dục, ly bất thiện pháp.
3.2.4 Văn tuệ, Tư tuệ, Tu tuệ
Theo
Đạo Phật có ba loại trí tuệ: văn tuệ, tư tuệ, tu tuệ:
a. Văn
Tuệ
Văn tuệ là gì? Văn tuệ là trí
tuệ hiểu biết bằng cách tích lũy kiến giải, tưởng giải của cổ nhân trong kinh sách,
hoặc nghe thuyết giảng, hoặc học thuộc lòng. Trí tuệ này gọi là trí tuệ tránh
né, trốn chạy các dục, các ác pháp. Trí tuệ này còn gọi là sở tri chướng. Người
càng học tập, nghe thuyết giảng và tích lũy nhiều sự hiểu biết thì ngã
chấp, kiến chấp sâu dày, thường nuôi lớn bản ngã to lớn. Trí tuệ này
rất nguy hại cho người tu hành đạo giải thoát của Đạo Phật. Xưa Ông A Nan vì có
trí tuệ thông minh này nên sự tu hành rất chậm lụt.
b. Tư
Tuệ
Tư tuệ là gì? Tư tuệ là trí tuệ
suy tư, nghĩ ngợi, tìm tòi, nghiên cứu, khai triển sự hiểu biết của riêng mình,
không vay mượn trong kinh sách. Nó còn gọi là trí thông minh. Tư tuệ là trí tuệ
thông minh của riêng mình để phát minh những điều chưa ai tìm được;để hoá giải
tâm đau khổ, phiền não, sân hận, tỵ hiềm, nhỏ nhen, ích kỷ; để thực hiện
ba đức, ba hạnh cho rốt ráo. Bởi vậy tư tuệ là trí tuệ thông minh rất cần thiết
cho sự tu tập ở giai đoạn I, tu ly dục ly bất thiện pháp. Nếu các con không
chịu triển khai trí tuệ thông minh này theo như lời cô Út đã từng chỉ dạy thì các
con khó mà thực hiện được ba đức, ba hạnh. Nếu không thực hiện được ba đức, ba
hạnh thì làm sao ly dục, ly bất thiện pháp được? Đó là trí tuệ thông minh, vô
sư của mọi con người, nên phải động não, làm việc thì mới triển khai được nó.
c. Tu
Tuệ
Tu tuệ là gì? Tu tuệ là trí tuệ
do tu tập thiền định sanh ra. Trí tuệ này còn gọi là Trí Tuệ Vô Sư Tam Minh,
gọi tắt là Trí Tuệ Vô Lậu. Trí tuệ này là trí tuệ siêu đẳng, viên mãn, thành
tựu được đạo giải thoát của đức
Phật. Trí tuệ được khai mở khi thiền định viên mãn, vì thế là trí tuệ này được
xem như là trí tuệ cuối cùng của Đạo Phật. Nó chứng minh rõ ràng sự làm chủ, nó
chấm dứt sự khổ đau trong sanh tử luân hồi của chúng ta. Nó không có giúp ích
gì trong sự tu tập ly dục, ly bất thiện pháp. Nó chỉ là một sự minh xác chân
thật, kiểm nghiệm sự thành tựu tu tập của chúng ta mà thôi.
Tóm lại của đoạn văn này thì ba
trí tuệ: Văn, Tư, Tu, chỉ có Tư
Tuệ là một thứ trí tuệ cần thiết và không kém phần quan trọng
sự tu tập ly dục, ly bất thiện pháp ở giai đoạn thiền thứ nhất. Nếu một người
chưa ly dục, ly bất thiện pháp thì không thể nào nhập định được. Mà không nhập
định được thì làm sao khai mở trí tuệ vô sư vô lậu được? Do thế, Minh Cảnh đã
hiểu lầm: cứ tu tập thiền định, từ thiền định phát sinh ra trí tuệ vô sư, từ trí
tuệ vô sư vô lậu sẽ diệt sạch bản ngã, không còn lậu hoặc nữa.
Như Thầy đã dạy ở trên, ba trí
tuệ chỉ có chỉ có Tư Tuệ là quan trọng và ích lợi trong sự tu tập, Văn Tuệ là
sở tri chướng, Tu Tuệ là để xác minh sự tu tập kết quả cho rõ ràng. Nếu một người
tu tập cẩn thận, có ý tứ, thận trọng giữ gìn từng lời nói, hành động, việc làm
biết sống hoà hợp thương yêu và tha thứ cho nhau, không tỵ hiềm ganh ghét,
không tranh đua hơn thiệt, không châm biếm mỉa mai, giữ gìn kỷ luật Tu viện
nghiêm túc, không vi phạm lỗi lầm, đó là người ly dục, ly bất thiện pháp. Sống
như vậy là tạo hoàn cảnh yên tịnh, thanh nhàn để cùng nhau tu hành. Sống mà nay
tạo duyên này, mai tạo duyên khác, khiến cho hoàn cảnh bất an, mất thanh tịnh
thì mình tu khó, mà người khác tu cũng khó.
Người nuôi lớn bản ngã là người thường thấy lỗi người khác, không thấy lỗi mình, thấy cái sai của người khác, không thấy cái sai của mình, người ấy không ly dục, ly bất thiện pháp.
Người nuôi lớn bản ngã là người thường thấy lỗi người khác, không thấy lỗi mình, thấy cái sai của người khác, không thấy cái sai của mình, người ấy không ly dục, ly bất thiện pháp.
Đến đây Thầy xin chấm dứt bài
pháp hôm nay. Các con hãy ghi nhớ kỹ, cố gắng tu tập. “Có công mài sắt, có ngày nên
kim”. Sự giải thoát đau khổ đang chờ các con ở phía trước nếu
các con tu tập đúng lời Thầy dạy.
3.2.5
Thầy trả lời các câu hỏi của quý tu sinh[2]
Khi giảng đến đây, Thầy đã nhận được một số nhật ký thời khóa tu
tập của các con, trong đó có nhiều câu hỏi về cách thức tu tập ly dục ly ác
pháp. Thầy xin trả lời từng người một.
Cô Liên Pháp hỏi đạo:
Con thở 4 giây một hơi
thở, như vậy có thở dài lắm
không và có trở ngại gì cho việc thiền định của con không?
Trả
lời:
Một hơi thở 4 giây không dài lắm và
không có gì trở ngại cho thiền định, tùy sự ổn định ở hơi thở đó,
không bị rối loạn cơ thể thì đó là hơi thở rất tốt.
Trả
lời câu thứ 2: Về hạnh độc cư. Hạnh độc cư rất
khó tu tập, vì vậy Thầy đã chia làm 3 giai đoạn tu tập, con hãy nghe
lời giảng trong băng theo đó mà tu.
Trả
lời câu hỏi thứ 3: Về việc xả tâm. Xả tâm tức là ly
dục, ly bất thiện pháp. Thầy đang giảng trạch ở trong băng. Hãy nghe
lại kỹ để tu tập cho đúng. Về việc xả tâm ly dục, ly ác pháp đòi
hỏi ở trí thông minh rất nhiều nên cần phải động não suy tư để tự
triển khai trí thông minh tạo thêm ly dục ly ác pháp nhanh chóng và dễ
dàng.
Những điều con đã trình bày trong
tập nhật ký thời khóa, cách thức tự triển khai trí tuệ xả tâm của
con điều này cô Diệu Quang đã từng chỉ thẳng các con tự triển khai
trí tuệ này để buông xả ly dục ly ác pháp.
Tự Hạnh hỏi đạo:
Câu 1: Về hơi thở. Qua sự trình bày về hơi thở, con
đã tu tập tốt, có chất lượng cao, hãy cố gắng tiếp tục tu tập, rèn
luyện hơi thở theo sự hướng dẫn của cô Diệu Quang, có gì trục trặc
cần phải thưa hỏi liền để điều chỉnh cho kịp, tu hành đúng, không
mất thời gian.
Câu 2: Về việc xả tâm. Về việc xả tâm con phải nghe
lời dạy của Thầy trong băng để biết cách tu cho rõ ràng.
Câu 3: Về khai triển trí tuệ, cách thức trình bày
lý luận của con để tự xả tâm. Đó là điều tự triển khai trí tuệ
buông xả ly dục ly ác pháp. Điều này rất cần thiết và quan trọng ở
giai đoạn Ly: Ly dục, ly bất thiện pháp. Như Thầy đã giảng: Muốn xả tâm ly
dục ly ác pháp, phải có nhiều phương cách tu tập, rèn luyện, toàn
bộ giáo điển của đạo Phật đều dạy tu tập ở giai đoạn này hơn 90%,
còn lại là Thiền Định và Trí Tuệ.
Vì thế Thầy mới dạy các con lập 3
đức, 3 hạnh như Ăn, Ngủ, Độc Cư, Nhẫn Nhục, Tùy Thuận, Bằng Lòng. Tu
tập 3 đức, 3 hạnh này chưa đủ, các con còn phải tu tập pháp hướng
tâm, pháp tỉnh giác, pháp ý tứ, pháp cẩn thận, pháp kỹ lưỡng, pháp
thanh thản, pháp trụ tâm, pháp gom tâm và còn tập luyện ổn định đề
mục Thiền hơi thở để có một nội lực dũng mãnh hầu đến giai đoạn
diệt và xả tu tập được dễ dàng hơn. Các pháp này được Thầy giảng
rộng để các con hiểu rõ và biết cách tu tập cho đúng. Hãy cố gắng
tu tập đều đều, cô Diệu Quang đang tuyển chọn, nếu thấy được là đưa
các con lên lớp thứ 2 của Thiền định.
Từ Huyện hỏi đạo:
Câu 1: Hoàn cảnh xảy đến tâm con đang dao động, con tu
tập lui lại theo lời cô Diệu Quang dạy. Tu tập căn bản là điều cần
thiết, tu tập đúng, tập chậm, tập kỹ là có kết quả tốt trên đường
rèn luyện thân tâm. Tập nhiều, tập nhanh, tập không kỹ lưỡng là không
có kết quả, uổng công, tu tập vô ích. Có hoàn cảnh nghịch xảy ra
mới biết được sự tu tập của mình nhưng đừng lấy đó làm buồn, làm
hối tiếc mà phải lấy đó rút tỉa kinh nghiệm ưu khuyết để tu tập
tốt hơn. Người ta bảo thất bại là mẹ thành công, hãy nghe lời dạy
trong băng của Thầy để thiết lập một đường lối tu tập cho đúng cách,
chỗ nào chưa thông, chưa hiểu thì hỏi lại cô út Diệu Quang.
Việt Trí hỏi đạo:
Câu 1: Muốn được trạng thái tâm rất vắng lặng, không
bị một niệm xen vào khi đang thở, đó là trạng thái tùy thức.
Câu 2: Tâm bị động, vài ba hôm sau con mới nhiếp tâm
tốt lại, lúc đó con mới cảm thấy tâm con yên lặng phăng phắc. Thưa
Thầy như vậy nó có rơi vào định tưởng không?
Đó là trạng thái tâm phục hồi sau
khi bị động không phải định tưởng
Câu 3: Người xả tâm, tâm chưa làm chủ được tức là tâm
chưa xả, vậy nên nghe theo lời giảng trong băng của Thầy để thiết lập
(Băng 2)
Câu 1: Về xả tâm, hãy nghe lời dạy trong băng của
Thầy để biết cách tu tập cho đúng, cái nào tu trước, cái nào tu sau,
cái nào tu chính, cái nào tu phụ để xả tâm ly dục, ly bất thiện
pháp.
Câu 2: Về hoàn cảnh xảy ra. Mọi hoàn cảnh xảy ra
trên bước đường tu tập là để thử thách và trắc nghiệm lại sự tu
tập của mình, con phải lấy đó rút tỉa kinh nghiệm ưu khuyết tu tập
tốt hơn, đừng lấy đó hối tiếc mà phải lấy đó làm đà tiến thủ tu
tập, trước khi thành công đều phải có thất bại. Sau khi nghe băng phải
vạch đường lối tu tập rõ ràng, cái trước cái sau, cái phụ cái
chính.
Câu 3: Tất cả hành vi thân khẩu ý của mình đều phải
ý tứ thân hành niệm thì tâm mới thanh tịnh được, thưa Thầy như vậy
có đúng không?
Đây mới là trí hành niệm thanh
tịnh của tâm. Còn tu tập có nhiều điều tập luyện tâm mới được thanh
tịnh. Phải nghe lại lời dạy trong băng của Thầy.
Câu 4: Im lặng mãi là nén tâm chớ tâm không thanh
tịnh, thưa Thầy có phải vậy không?
Im lặng mãi là á khẩu là câm,
hình thức đó là nén tâm, cần phải tránh xa. Muốn tâm thanh tịnh phải
tu tập nhiều phương cách, trong đó có tập ít nói.
Câu 5: Phân tích, hiểu thấu suốt, quán sắc bén, thưa
Thầy đó có phải là pháp tu xả tâm không?
Trả lời: Phân tích hiểu thấu suốt,
quán sắc bén là pháp môn tự khai triển trí tuệ buông xả ly dục ly
bất thiện pháp. Và cô út Diệu Quang đã từng chỉ thẳng đập mạnh để
các con tự khai triển nó.
Câu 6: Về lời nói. Điều
quan trọng trong việc xả tâm diệt ngã là tịnh khẩu. Pháp tu tịnh khẩu tập ít nói, khi nói phải
cẩn thận, trong lời nói không được nói cười đùa, không được nói tếu,
không được nói châm chọc, không được nói mỉa mai, không được nói móc
lò. Nói phải suy nghĩ kỹ rồi mới nói. Lời nói rất quan trọng, nếu
không suy nghĩ kỹ lời nói ra sẽ làm mất giá trị đạo đức của chính
người nói. Nên con phải cẩn ngôn, lời nói ra càng nuôi dưỡng bản ngã
to lớn hơn, nên cẩn thận ý tứ tư duy lời nói để diệt ngã xả tâm.
Đào hỏi đạo:
Sau thời gian tu tập con được cô Út
Diệu Quang chỉ thẳng, đập mạnh phá vỡ màng vô minh đen tối ngã chấp,
hôm nay con có tiến bộ rất nhiều trong sự giữ gìn không đi đây đó,
trong sự không khoe khoang, trong sự không xảo trá, luôn chân thật, không
giận giữ, không phiền não đau khổ, mọi mặt này đều có tiến bộ. Vậy
từ đây con hãy cố gắng hơn, tu tập cẩn thận kỹ lưỡng hơn để trở
thành người chân thật, khi mà ôn tồn nhã nhặn…đầy đủ đạo hạnh của
người tu sĩ. Con hãy nghe kỹ lời dạy trong băng để thiết lập được
đường lối tu hành trước sau rõ ràng.
Về phần tu tập hơi thở, con đã
nhiếp tâm tốt nên thưa hỏi cô Diệu Quang để được kiểm tra kỹ rồi mới
tiến lên giữ thân tâm bất động. Cô Diệu Quang đang chọn người tu tốt
về đức hạnh cũng như về hơi thở để đưa lên lớp thiền định thứ 2,
tập luyện đóng mở 6 căn, con hãy cố gắng giữ gìn tu tập xả tâm,
diệt ngã, lập đức lập hạnh cho rốt ráo để được tuyển chọn để tu ở
lớp cao hơn. Đừng nên tự mãn ở sự tu tập của mình vì đường tu tập
còn xa, sự ly dục ly ác pháp còn nhiều, chưa phải bao nhiêu đó đã
hết được, phải cố gắng và cố gắng hơn.
Từ Đức hỏi đạo:
Phần thưa hỏi về bệnh tật của con,
Thầy sẽ trực tiếp trả lời.
Minh Cảnh hỏi đạo:
Cô Út thương con như một bà mẹ, biết
rõ bản ngã của con to lớn như núi, nó to lớn công phu theo sự tu tập
thiền định của con, vì trong Tu viện bên nữ con là người tu tập thiền
định lâu, ngồi lâu, nhiếp tâm nhiều năm tháng nên có vững vàng hơn mọi
người. Và do những điều tu tập này mà con cứ ngỡ rằng mình tu đúng
nên bản ngã của con to lớn và cũng vì thế mà lòng tự đắc của con
càng cao và con không bao giờ chịu nghe lời cô út Diệu Quang sửa sai.
Cứ dựa vào Thầy, cho cô Út Diệu Quang chẳng biết gì về pháp tu nhưng
con phải biết một người mà Thầy đề nghị hướng ra để dẫn dắt các
con tu tập là phải có đủ bản lãnh, chứ nếu không chắc Thầy không
giới thiệu cô Út dạy các con. Cô út Diệu Quang rất biết tâm niệm con
nhưng không nản chí, cố tìm mọi kẽ hở của con để đập phá, cái ngã
chấp vô minh đen tối muôn đời mà con chẳng biết, thường lý luận che
đậy diệt ngã xả tâm. Càng đập phá thì tâm con càng bị nén, rồi
dùng hạnh không nói của hạnh độc cư mà Thầy đã dạy để nén tâm hơn
nữa. Thay vì xả tâm, chỉ vì con chưa nhận rõ đường lối tu tập của
Phật của Thầy ở giai đoạn đầu. Con chỉ chấp ở giai đoạn thứ 2 và
thứ 3 là định và trí tuệ vô lậu nên sự hiểu lầm này con đã nuôi
lớn ngã của mình, tu tập nhiều lý luận.
Cuối cùng, qua phần oai nghi tế
hạnh, con là người không được trọn vẹn đầy đủ. Con nên biết toàn bộ
giáo lý của đức Phật hơn 90% đều dạy cách ly dục ly bất thiện pháp,
chớ không phải tu điên tu khùng như con chỉ biết ngồi thiền nhiếp tâm
ở giai đoạn diệt và giai đoạn trí tuệ vô sư, vô lậu, Phật xả tâm
không nén tâm vì thế Phật đã sống 6 năm khổ hạnh ly dục ly bất thiện
pháp, con hãy xét lại kỹ, từ ngày tu theo Phật con thường sống theo
ý muốn của mình, từ cái ăn cái mặc, cái thở, cái ngủ đều theo ý
muốn của con vì vậy càng nuôi lớn dục. Hình thức bên ngoài con ly
vật dụng nhưng nội tâm bên trong con không ly ý muốn của mình, ý muốn là tâm
dục của con.
Hãy nghe lời dạy của Thầy trong
băng mà thiết lập một đường lối tu tập có đầu có đuôi, có dễ có
khó, chớ không phải tu lộn xộn như thế này được nữa. Đừng có nhắm
vào thiền định mà không có định gì được cả mà hãy nhắm vào đức
hạnh, giới luật của Phật để xả tâm, để ly ác pháp. Tu tập phải biết cách tu cái gì, làm cái gì,
xả cái gì, ứng phó cái gì, đương đầu cái gì, ly như thế nào, diệt
như thế nào, xả như thế nào. Những bức thư con đã trình bày trong
tập Nhật ký thời khóa về sự ly dục, ly bất thiện pháp và về hơi
thở, cách thức tu tập chưa có cụ thể, còn lộn xộn, đầu đuôi chưa
phân minh. Cũng vì thế mỗi lần bị động hay bị trắc nghiệm thì tâm
con bất an, thường nén tâm chịu đựng hoặc ôm hơi thở chịu đựng, hoặc
dùng ý niệm thiện Phật pháp và nhờ thời gian làm giảm đi sự bất an
đó. Vì thế con cần phải thiết lập một đường lối cách thức tu tập
phải rõ ràng để đương đầu với mọi việc, mọi sự đều được hóa giải
ngay, không thể để nén tâm tức nước vỡ bờ như đã xảy ra trong lần
trắc nghiệm trong lần thi trước.
Mỗi lần Thầy nhắc cô Diệu Quang hãy
xem cô Cảnh nhiếp tâm tốt mà tuyển thi chọn cô tu tập lớp trên nhưng
mỗi lần tuyển thi thì con đều bị rớt, cuối cùng con cứ tưởng mình
là xả tâm diệt ngã nhưng hoàn toàn tâm ngã còn chấp khư khư. Bây giờ
con không nên quan tâm về việc tọa thiền mà phải nỗ lực tu tập ly dục
ly bất thiện pháp. Cốt tủy thiền định hay nói một cách khác nền
tảng thiền định của đạo Phật là ở chỗ ly dục, ly bất thiện pháp. Nếu không hiểu nên thưa hỏi kỹ lại cô Diệu Quang
để tu tập xây dựng một con người đạo đức chơn thật, giải thoát trong
đạo Phật. Đừng thưa hỏi lòng vòng mà phải thưa hỏi đúng cách, thưa
hỏi lòng vòng là chỉ đem những kiến giải, tưởng giải trong kinh sách
ra hỏi thì không đúng. Thưa hỏi ngay chỗ tu của mình, chỗ làm sai của
mình, chỗ không đúng của mình thì được giảng dạy ngay. Còn hỏi lòng
vòng không đúng cách thì không được giảng dạy.
Huệ Ân hỏi đạo:
Thưa Thầy và cô Út, diệt ngã có
phải là khi nghe bài học thử thách với ai, con tưởng đó là của mình
nên lấy đó quán xét lỗi mình và vui vẻ nhận lỗi để sửa như vậy có
phải là xả tâm, diệt ngã không?
Đúng vậy, đó là lấy lỗi người
sửa lỗi mình hoặc ngừa lỗi mình để tiến tu diệt ngã xả tâm ly dục
ly ác pháp. Còn trực tiếp ngay lỗi mình thì cũng phải tự quán xét
nhận ra lỗi lầm, nhận ra điều sai quấy để sửa mình, diệt ngã xả
tâm. Mới bắt đầu tu tập 3 đức, 3 hạnh để diệt ngã xả tâm ly dục ly
bất thiện pháp thì pháp quán về nhân quả là cần thiết, vì càng
quán về nhân quả thì trí tuệ vô sư tương tuệ của chúng ta sẽ phát
triển hiểu rõ đường đi lối về của nhân quả. Còn nếu không chịu mà
cứ dựa vào những lời của Thầy dạy về những nhân quả thì không rõ
đường đi của nhân quả, không rõ sự diễn biến của nhân quả, không rõ
các duyên nhân quả đang trùng trùng khởi xung quanh chúng ta. Cho nên
muốn tu tập 3 đức, 3 hạnh để ly dục xả ngã, ly ác pháp thì phải
khai triển trí tuệ nhân quả, phải suy xét thấu đáo nhân quả, từng đó
cái Thầy chưa dạy chúng ta đã thông suốt và thông suốt hơn những điều
Thầy đã dạy vì vậy mới thấu rõ là đường đi lối về của nhân quả.
An Tịnh hỏi đạo:
Xét qua nhật ký thời khóa tu tập
của con, giữa khuya là giờ tu kém nhất, thường bị hôn trầm thùy miên,
do đó đến giờ này con phải tập siêng năng dậy sớm đúng giờ, phải
động thân, phải đi kinh hành nhiều và luôn nhớ hướng tâm tỉnh giác,
phải dẫn tâm vào một đối tượng mà tâm thích như đọc kinh, nghiên cứu
pháp tu, hoặc tư duy các lỗi lầm, hoặc quán xét các đề mục tu hành
thì mới mong chiến thắng được sự thùy miên hôn trầm của con.
Diệu Hảo hỏi đạo:
Cần lấy tất cả lỗi của người bạn
đồng tu quán xét để tự triển khai trí tuệ xả tâm diệt ngã, ly dục
ly ác pháp. Lấy những lỗi lầm của bạn đồng tu để ngăn ngừa tâm mình
không cho phạm phải những lỗi lầm đó là ly dục ly ác pháp. Về tu
tập hơi thở cần phải tập kỹ, tập hơi thở đúng, tập phải có chất
lượng tập trung cao, không được tu lờ mờ, không được tu lấy lệ, phải
luôn nhắc tâm, không được để tâm mê trong hơi thở, phải tu cho thật là
tu, tu cho có sức chủ động, điều khiển hơi thở và trụ tâm vững chắc,
không cần ngồi nhiều, chỉ 1 phút có chất lượng chủ động điều khiển
tâm là tốt nhất.
Diệu Hảo con phải nhớ kỹ những
điều này, đừng thích ngồi nhiều mà tu sai con đường Thầy đã dạy, tu
ít mà chất lượng cao, tu nhiều mà lờ mờ thì phí uổng thời gian.
Tuổi con cũng quá già yếu sắp chết nay chết mai nên phải tu cho đúng
để thời gian thu ngắn lại, con đường tu mau kết quả.
Tú hỏi đạo:
10 hơi thở trong nửa phút, thời công
phu nào cũng tốt, đó là một sự tu tập có tiến bộ. Trong hơi thở có
tỉnh giác cao mới đạt được như vậy.
Về phần xả tâm thì con còn yếu
lắm nên phải hệ thống cách thức tu tập như Thầy đã dạy trong băng,
cái nào tu trước, cái nào tu sau, một ngày tu bao nhiêu thứ, tu cái
gì, tập cái gì. Muốn tu tập ly dục ly bất thiện pháp xả tâm diệt
ngã con phải luôn luôn dè dặt ý tứ từng lời nói, trước khi nói phải
tư duy rồi mới nói. Đối với người khác, không được nói cười đùa,
không được nói mỉa mai, không được nói móc lò, phải cẩn thận trong
lời nói, phải tập suy nghĩ kỹ rồi mới nói. Lời nói rất quan trọng
nếu không suy tư kỹ lời nói ra không lấy lại được và nó sẽ làm mất
giá trị của con người nên phải cẩn ngôn. Lời nói ra càng nuôi dưỡng
bản ngã càng thêm to lớn nên cần phải ý tứ tư duy lời nói để diệt
ngã xả tâm ly dục ly ác pháp. Đây là phương cách bảo vệ tâm qua khẩu
nghiệp, để xả tâm ly dục ly ác pháp, con phải thường xuyên tu tập giữ
gìn khẩu nghiệp để diệt ngã xả tâm rốt ráo.
Diệu Hồng hỏi đạo:
Về phần xả tâm diệt ngã, con đã
được cô Út Diệu Quang tuyển thi đập phá nhờ đó con đã ly được ác pháp
và xả được ngã nhưng chưa trọn vẹn đâu, còn phải cố gắng nhiều hơn
nữa để xả cho thật rốt ráo. Trong tập nhật ký thời khóa con đã
trình, từ ngày con được cô út Diệu Quang đập vỡ màn vô minh ngã
chấp, con đã nhận ra được ánh sáng giải thoát với một niềm tin mãnh
liệt. Nhưng từ đây về sau con đều phải nhận mọi người là thiện hữu
tri thức không phải chỉ riêng có cô út Diệu Quang mà tất cả đều là
cô út Diệu Quang, có như thế tâm con mới xả ngã và ly ác pháp rốt
ráo.
Về hơi thở, con tu rất tốt nhưng
phải cẩn thận tỉnh giác từng hơi thở, phải siêng năng hướng tâm, phải
giữ gìn thân bất động, phải trụ tâm 1 điểm duy nhất từ bắt đầu tọa
thiền cho đến xả thiền phải tỉnh giác hoàn toàn trong hơi thở, không
có gì trong hơi thở. Có gì chưa rõ về hơi thở hoặc tăng thêm con nên
thưa hỏi cô Diệu Quang để được chỉ dạy cặn kẽ về cách thức tu tập
và muốn biết cách thức sống độc cư, hoặc nghe lời dạy trong băng của
Thầy ghi chép kỹ, nhớ kỹ, thực hành đúng, không nên tu sai cảnh độc
cư. Như con đã biết thời gian đối với con rất là quý báu vì tuổi
càng cao sức càng yếu, đường tu tập của con còn xa, phải hỏi kỹ để
tu tập cho đúng thu ngắn được thời gian.
Để kết thúc buổi nói chuyện hôm
nay, Thầy tóm lại, phàm là con người tất yếu phải có sự sai lầm
nhưng có sai lầm mà biết tu sửa thì sẽ trở thành những bậc thánh nhân.
Đạo Phật là một tôn giáo không có
chỗ để con người dựa lưng, nương tựa. Chỉ có con người biết tu sửa
những lỗi lầm của mình mà giáo pháp của đức Phật đã vạch ra để
chỉ dạy cho, nhờ có sự tu sửa đúng lời dạy của đức Phật thì chính
mình đã tự cứu mình thoát cảnh khổ đau và hưởng được sự an vui,
hạnh phúc. Một lần, hai lần ba lần chưa sửa được thì hãy tiếp tục
bền chí tu sửa 10 lần, trăm lần, ngàn lần sẽ có kết quả tốt. Đừng lấy
việc tu sửa một hai lần chưa được mà bỏ cuộc thì đó là người hèn
kém, thiếu nghị lực, thiếu bền chí. Trong cuộc đời của chúng ta đã
có biết bao nhiêu người tu sửa được, từ ngàn xưa đức Phật và các đệ
tử của ngài và hiện tại trong đời nay chúng ta cũng có người tu sửa
được, tất nhiên các con cũng tu sửa được, không có gì phải nản chí.
Giác Quang hỏi đạo:
Hỏi:
Kính bạch Trưởng Lão Thích Thông Lạc!
Xin Thầy cho phép con được hỏi: Kinh Thủ
Lăng Nghiêm dạy: “Không cho phép một vị tu sĩ nói mình tu chứng quả, dù vị đó
đã thật chứng cũng phải giữ bí mật mà không được nói ra cho tín đồ biết”. Con
được biết Trưởng Lão đã làm chủ được sinh, lão, bệnh, tử trong những thời pháp
được phát hành trong đĩa, như vậy có trái lời Phật dạy không, hay là do kinh
sách phát triển của mấy tổ biên soạn cấm chế?
Thành kính đảnh lễ Trưởng Lão - Con,
Giác Quang.
Đáp:
Kinh Thủ Lăng Nghiêm dựng lên một Phật
tánh ảo tưởng (tánh thấy, tánh nghe, tánh biết) của ba Thức trong nhóm sáu Thức
của thân tứ đại. Vì thế làm sao người ta tu chứng được, do không ai tu chứng
nên kinh khéo che đậy: “Người nào tu chứng mà nói mình tu chứng là chưa tu
chứng”.
Xưa Đức Phật tu chứng Ngài đã tuyên bố
ngay liền:
“Thiên thượng thiên hạ. Duy ngã độc tôn.
Nhất thiết thế gian. Sinh lão bệnh tử”.
Tạm dịch:
“Trên trời dưới trời. Khắp trong thế
gian.
Ta (là) người duy nhất. (Làm chủ) sinh, già,
bệnh, chết”
Đức Phật đã xác định pháp môn tu tập của
Ngài chứng đạt làm chủ thân tâm cụ thể thiết thực lợi ích cho loài người như
vậy, chứ đâu như “kiến tánh thành Phật” của Thiền Tông và Đại Thừa. Cho nên qua
lời xác định này của Phật các Tổ Đại Thừa quá sợ hãi bốn câu kệ trên. Các Tổ
hữu ý nên chỉ lấy hai câu đầu trong bài kệ bốn câu dựng lên huyền thoại Phật
đản sinh: Khi Đức Phật vừa sinh ra đi bẩy bước, tay chỉ trời, tay chỉ đất và
nói: “Thiên thượng thiên hạ. Duy ngã độc tôn”.
Đó là một điều đã làm của các Tổ. Dám
cắt xén lời Phật dạy thành câu chuyện không thực tế, thiếu thiết thực, không
khoa học.
Đạo Phật ra đời không dạy người tu làm
Tiên, làm Phật, không dạy người tu thần thông phép thuật để làm trò du hý,
không ích lợi, lừa đảo người.
Đạo Phật ra đời dạy người sống không làm
khổ mình, không làm khổ người và không làm khổ tất cả chúng sanh: “Chư ác mạc tác chúng thiện phụng hành”
hoặc “Ngăn ác diệt ác pháp, sinh thiện
tăng trưởng thiện pháp”, hoặc “Ly
dục, ly ác pháp, nhập Sơ thiền” hoặc “Thấy
lỗi mình không thấy lỗi người”... Con đường tu tập theo giáo pháp ngyên
thủy của đức Phật mà trong kinh Nikaya dạy là làm chủ sanh, già, bệnh, chết và
chấm dứt tái sinh luân hồi một cách cụ thể rõ ràng. Từng bước tu tập có pháp
dẫn tâm, có tri kiến chỉ đạo hẳn hoi, chứ không như kinh sách Đại Thừa và Thiền
Tông dạy tu tập nhiếp tâm ức chế tâm một cách chung chung, tu mà không biết
mình tu tới đâu, giống như người đi trong đêm tối không đèn đuốc mờ mịt. Pháp
môn nguyên thủy của đạo Phật luôn đem lại sự lợi ích cho loài người một cách
thiết thực cụ thể không mơ hồ trừu tượng như kinh sách phát triển.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm là một loại kinh
tưởng, kinh không phải Phật thuyết mà do các Tổ biên soạn mượn danh Phật thuyết
để mọi người lầm lẫn tin tưởng. Cho nên kinh khéo léo che đậy bưng bít, khiến
cho Phật tử không biết vị tỳ kheo nào tu chứng, vị tỳ kheo nào tu chưa chứng.
“Kẻ nào tu hành còn thấy mình tu chứng là chưa chứng”- Vô sở đắc!
Người tu chứng nói ra mình tu chứng là
nói sự thật thì có mắc tội gì trong Giới luật của đạo Phật đâu! Phải không quý
Phật tử? Ngày xưa khi đức Phật tu chứng, Ngài cũng tuyên bố cho mọi người biết,
như vậy có sai chỗ nào đâu? Chỉ có những người chưa tu chứng mà nói mình tu
chứng mới là mắc tội vọng ngữ trong Giới luật Phật. Có đúng không quý Phật tử?
Do kinh sách Đại Thừa để lại những điều
phi Phật pháp khiến chúng ta mới thấy sự cố ý diệt Phật giáo của các Tổ. Các Tổ
đã để lại một pháp môn làm hao tài tốn của, tốn công sức của bao nhiêu thế hệ
mai sau, tu hành chẳng ra gì. Hình ảnh đau đớn nhất của Phật giáo hiện nay là
các sư thầy không sống đúng Giới luật, không lo tu chứng đạo mà người nào cũng
tu danh (bằng cấp), tu lợi (tiền bạc), tu xây chùa to, tu đúc tượng Phật lớn,
và chạy theo ngũ dục lạc ăn ngủ phi thời. Cho nên thời nay tìm một vị tu hành
làm chủ sinh, già, bệnh, chết rất khó.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm là một loại kinh
chịu ảnh hưởng kinh sách Vệ Đà do kiến giải của các Tổ Bà La Môn. Xin quý Phật
tử hãy trở về nghiên cứu những kinh điển nguyên thủy của Phật giáo được Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch từ tiếng Pali sang tiếng Việt với đầy đủ nghĩa lý
vì bản dịch của Ngài còn giữ song ngữ để đối chiếu.
Đây là lời nói chân thật của một người
tu hành đã làm chủ được sanh, già, bệnh, chết, nếu quý vị tin thì sẽ có lợi ích
cho quý vị còn không tin thì thôi chẳng có sao cả.
Thăm và chúc Giác Quang mạnh, nhớ sống
đúng Giới đức hiếu sinh, không làm khổ mình, không làm khổ người và không làm
khổ tất cả chúng sanh thì ngay đó là giải thoát.
Thiện Tâm hỏi đạo:
Sáu Cái Biết Có Phải Là Tánh Biết Không?
Thưa Đức Trưởng Lão Thông Lạc.
Có nhiều điều con muốn hỏi Thầy, nhưng
con ngại mất thời gian của Thầy và con thấy sức tu của con còn kém, cho nên con
sẽ cố gắng suy tư nhiều hơn trước khi hỏi. Nhưng con cúng xin phép Thầy cho con
ghi những câu hỏi ra đây để khi nào có dịp con sẽ gởi những câu hỏi này cho
Thầy. còn chuyện trả lời thì tùy Thầy, vì Thầy biết lúc nào trả lời, lúc nào
không. Có lẽ cái tính ham muốn hiểu biết của con mạnh quá, cho nên hay thắc
mắc.
Xin Thầy hoan hỷ tha tội cho con.
Câu hỏi
1:
Đức Phật có dạy: “Cái thấy, cái nghe
không phải của ta, không phải là của ta và không phải là bản ngã của ta”.
Vậy cái thấy ở đây có phải là cái biết
của tính thấy hay không?
Cái nghe ở đây có phải là cái biết của
tính nghe hay không?
Cái biết ở đây có phải là cái biết của ý
thức hay không?
Nếu phải thì có thể gộp chung là cái
biết không phải là ta, không phải là của ta và không phải là bản ngã của ta?
Cái biết ở đây là cái biết của 6 thức. Vậy tại sao không thấy đức Phật nói về
cái biết của mùi, vị và xúc?
Xin Thầy giải thích rõ hơn cho con về
điều này.
Đáp:
Đức Phật đã dạy sáu thức rõ ràng:
1. Cái thấy ở đây là cái thấy của mắt
gọi là cái thấy của nhãn căn, chứ không phải cái biết của tính thấy nào cả.
Cái thấy biết ở đây là cái thấy biết của
mắt gọi là nhãn thức.
2. Cái nghe ở đây là cái thấy của tai
gọi là cái nghe của nhĩ căn, chứ không phải cái biết của tính nghe nào cả.
Cái nghe biết ở đây là cái nghe biết của
tai gọi là nhĩ thức.
3. Cái biết ở đây là cái biết của ý
thức, chứ không phải cái biết ở đây là cái biết của tính biết nào cả.
Cái biết ở đây là cái biết của ý căn nên
gọi là nhãn thức.
Phật thường day: Sáu căn, sáu trần và
sáu thức, nhưng quý vị không lưu ý nên không nhớ. Sáu căn, sáu thức, sáu trần
gồm có:
1. Nhãn căn là con mắt. Nhãn thức là cái
biết của con mắt. Nhãn trần là hình sắc của vạn vật.
2. Nhĩ căn là lỗ tai. Nhĩ thức là cái
biết của lỗ tai. Nhĩ trần là âm thanh của vạn vật.
3. Tỷ căn là lỗ mũi. Tỷ thức là cái biết
của lỗ mũi. Tỷ trần là hương vị của vạn vật.
4. Thiệt căn là miệng lưỡi. Thiệt thức
là cái biết của miệng lưỡi. Thiệt trần là mùi vị của vạn vật.
5. Thân căn là cơ thể. Thân thức là cái
cảm giác của cơ thể. Thân trần là tính mềm cứng nóng lạnh của vạn vật.
6. Ý căn là bộ óc (tri thức). Ý thức là
sự phân biệt của bộ óc. Ý trần là từng tâm niệm quá khứ, vị lai và hiện tại.
Sáu căn, sáu trần, sáu thức mới đầy đủ
18 giới của Phật giáo để tạo thành duyên những Xúc, Hữu, Thủ, Sinh, Ưu bi sầu
khổ già chết. Muốn biết rõ các duyên này, nên đọc Thập Nhị Nhân Duyên. Người ta
ít nói về Mùi, Vị và Xúc, thì đó là một sự thiếu sót, chứ trong kinh Phật dạy
rất đầy đủ. Nhưng khi chúng ta học thì hay nhắc đến Sắc, Thinh, Hương (mùi) là
xong, còn ít ai nói đến Vị (cay, đắng, ngọt, bùi), Xúc (cảm giác êm, ấm, cứng,
mềm), Pháp (những niệm trong tâm, vọng niệm).
Câu hỏi
2:
Khi ăn cơm có phải bắt buộc phải ngồi
dưới đất hay không? Vì con thấy mỗi lần ngồi dưới đất ăn cơm thì kiến nhiều
quá, cho nên con chuyển sang ngồi trên ghế, con không biết có phạm giới hay
không?
Đáp:
Ngồi dưới đất ăn là khất sĩ vì Đức Phật
đã buông xả sạch, sống không nhà cửa, không gia đình, không có của cải tài sản
tiền bạc, chỉ còn ba y một bát, đi xin về ăn hàng ngày. Vì thế khi xin có thức
ăn, liền tìm nơi nào có bóng mát ngồi ăn cho tiện, còn ngồi ăn trên bàn ghế lại
thêm có bàn ghế thì đâu gọi là đời sống ba y một bát. Khi có Phật tử cúng dường
tại nhà mời Phật và chúng Thánh Tăng đến thọ trai thì Phật và chúng Thánh Tăng
vẫn ngồi trên bàn ăn uống hẳn hoi, nhưng ăn rồi thì đi về, còn bàn ghế thì chủ
nhà sẽ dọn dẹp. Cho nên ăn ngồi dưới đất tiện hơn ngồi trên bàn, vì ăn rồi chỉ
có đi rửa bát là xong, không có lau bàn, lau ghế, cho nên rất tiện lợi, không
thêm bận rộn, khiến cho đời sống luôn luôn vô sự. Mục đích sống giải thoát ra
khỏi cuộc đời này là tâm phải Vô Sự. Ngồi dưới đất hay ngồi trên bàn ghế không
có phạm giới, nhưng ngồi dưới đất ăn cũng là Phạm hạnh của người tu. Đó là một
oai nghi diệt ngã xả tâm. Một tế hạnh buông xả. Có bàn ghế mà ngồi dưới đất ăn
là không thức thời cố chấp.
Câu hỏi
3:
Nhân quả của một người đặt tình thương
không đúng chỗ là gì?
Đáp:
Đặt tình thương không đúng chỗ là đặt
tình thương theo thất tình, lục dục. Đó là đặt tình thương theo ác pháp, tình
thương đó là tình thương trong đau khổ, khổ mình, khổ người. Con có biết thất
tình, lục dục là gì chưa?
Thất tình gồm có: Hỷ, Nộ, Ái, Ố, Ai,
Lạc, Dục.
Lục dục gồm có: Nhãn dục, Nhĩ dục, Tỷ
dục, Thiệt dục, Thân dục, Ý dục.
Khi đặt lòng yêu thương phải quan sát kỹ
lòng yêu thương ấy có rơi vào bảy tình sáu dục này không? Nếu rơi vào thì lòng
yêu thương này sẽ có sự khổ đau.
Ví dụ: lòng ghen tuông cũng là lòng yêu
thương do ái dục, nên làm mình khổ, người khác khổ. Lòng yêu thương ấy gọi là
lòng yêu thương khổ.
Câu hỏi
4:
Ví dụ bố thí sai thì nhân quả là gì? Bố
thí vì lòng yêu thương, nhưng sau đó biết rằng bố thí nhầm cho đối tượng thì
nhân quả là gì? Ví dụ một lần con đang chạy xe ở thành phố Vũng Tàu, con thấy
một anh thanh niên nằm bên lề đường quằn quại ôm bụng trông rất tội nghiệp như
người đau dạ dày. Con ngừng xe lại và quay lại ân cần hỏi thăm và tính chở anh
ta đi bệnh viện, anh ta không đi mà vẫn nằm ôm bụng rên la. Đến giờ con phải đi
làm cho nên con cho anh ta tiền gọi xe đến bệnh viện và tiền chữa bệnh, và nhờ
ông chủ nước ngay đó nếu cần thì gọi xe dùm, rồi con đi làm. Sau vài tháng con
thấy anh ta ở Sài Gòn cũng với tình trạng như vậy. Lần này con đặt câu hỏi
không biết thật hay giả đây? Nhưng con nghĩ thôi, thật hay giả thì coi như đã
giúp một lần và tự an ủi rằng ít ra mình không thờ ơ trước những cảnh khổ của
người khác và con tiếp tục đi không dừng lại nữa. Con đặt giả thuyết nếu như
anh ta đóng kịch thì coi như việc con làm là đặt tình thương không đúng chỗ,
sai lệch. Vậy thì có đáng trách là con thiếu tỉnh giác hay không?
Đáp:Bố thí không đúng pháp là bị người
lừa gạt, nên không làm lợi ích cho mình, vì mình bị gạt; không làm lợi ích cho
người vì tạo duyên cho người làm ác nhiều hơn (lường gạt người khác).
Trong đức bố thì đều do lòng yêu thương,
nó là nhân quả thiện, nhưng nếu thiếu trí tuệ quan sát đối tượng được bố thí
không thiện mà bố thí thì đó là nhân quả ác vì tạo duyên cho người làm ác nhiều
hơn. Trường hợp của con bố thí bị lừa gạt như đem hạt giống tốt gieo trên đất
xấu khô cằn cỗi.
Theo Phật giáo Nguyên Thủy bố thí phải
có trí tuệ nhân quả. Khi thấy một người tàn tật hay gặp một người bị tai nạn,
hoặc một người ốm đau không tiền thang thuốc, đi bác sỹ, hay đi bệnh viện. Đây
là nhân quả của những người này, họ đang trả vay, nhưng có nhân duyên kiếp
trước nên kiếp này mới gặp ta trong hoàn cảnh này. Vậy ta nên giúp đỡ họ như
thế nào cho đúng pháp?
Thấy người tàn tật biết rõ họ thật sự
tàn tật thì giúp đỡ, còn gặp họ ở giữa đường thì ta nên tránh, vì người tàn tật
đều có chỗ ở do các nhà từ thiện hoặc nhà nước, còn tàn tật ở ngoài đường là
giả dối, người tàn tật ở ngoài đường đi xin ăn làm nhục đất nước đó. Chúng ta
không nên cho những người ăn xin ngồi đường. Người tàn tật bất hạnh trong xã
hội đều có nhà dưỡng lão, nhà nuôi trẻ mồ côi, nhà nuôi những người khuyết tật,
nhà tình thương nuôi dạy trẻ lang thang v.v... Đó là trách nhiệm của Nhà nước,
của những nhà từ thiện. Như vậy đâu có cớ nào lại có người ăn xin ngoài đường.
Người bố thí cho kẻ ăn xin ngồi đường là không đúng pháp, đó là bố thí vô tình
tạo thêm những người lừa gạt người khác và cũng vô tình làm nhục đất nước (đất
nước ăn mày).
Còn bố thí cho người bệnh tật thì không
nên trao tiền cho họ mà đưa họ vào bệnh viện, đi bác sỹ, nếu bác sỹ bảo đó là
bệnh thật thì chúng ta mới bỏ tiền ra bố thí, còn nếu chúng ta bận việc không
đưa đi bác sỹ hay bệnh viện thì không nên bố thí. Bố thí là giúp người mà giúp
người thì phải đem hết lòng ra giúp, chứ không thể bố thí theo kiểu lấy có. Bố
thí như vậy là tạo duyên cho kẻ ác làm ác thêm (lừa đảo).
Câu hỏi
5:
Thật ra mà nói, con chưa hiểu rõ cách
làm sao để tránh trường hợp đặt tình thương không đúng chỗ. Ví dụ trong tu viện
có 2 người con thấy rất thương họ, đó là cô Nguyên Thanh và sư Chơn Niệm. Tại
sao con thương họ? Vì con thấy mọi người ai cũng không thích hai người này.
Đáp:
Đặt tình thương đúng chỗ là đặt tình
thương trong thiện pháp, nhưng tình thương của Phật giáo là tình thương đa
hướng, nên hướng thiện hay hướng ác đều đặt tình thương được cả. Thương yêu,
thương xót, thương hại mọi người, chứ không phải thương nhân quả của mọi người.
Cho nên nhân quả họ làm là họ phải gánh chịu, còn riêng chúng ta thương thì
chúng ta chỉ mong họ thấy được nhân quả để đừng sử dụng nhân quả ác làm khổ
mình khổ người. Nguyên Thanh và Chơn Niệm đều đáng thương vì chúng ta biết chắc
là hai người chuyển mình theo không kịp lớp tu học, nên có những cảm nghĩ và
hành động sai lệch khiến cho họ phải lìa xa các lớp học, vì vậy mà mọi người
không thương.
Câu hỏi
6:
Con chỉ có dịp học chung với sư Chơn
Niệm khóa đạo đức này thôi, nhưng con không xem trọng những gì Sư làm sai, nói
sai mà chỉ để ý đến những mặt tốt của Sư để học hỏi thôi và lấy Sư làm đối
tượng trong lớp để xả tâm. Nhưng hình như con đặt tình thương không đúng chỗ
thì phải vì con thấy mọi người đều khuyên Sư sửa cái này sửa cái kia, còn con
thì không nói trước lớp mà chỉ gặp riêng thôi để tránh làm mất sự đoàn kết
trong lớp. Và con thấy rất tội nghiệp cho Sư khi bị Thầy đưa ra quyết định vừa
rồi.
Xin Thầy chỉ dạy cho con biết làm sao để
biết là mình đặt tình thương không đúng chỗ và sai lệch. Thật tình mà nói, ai
con cũng thấy thương hết, và con không muốn để trong tâm hình ảnh xấu về ai cả.
Đáp:
Hình ảnh xấu xa của họ là hình ảnh của
nhân quả ác. Đã biết là nhân quả thì còn để ý hành động ác đó để làm gì. Cho
nên thương người mà thấy cái xấu của người khác thì làm sao thương người được,
cái khó nhất là thấy cái tốt của người khác, cái dễ nhất là thấy cái xấu của
người khác.
Học đạo đức mới thấy rõ mình là người
thiện hay là người ác, nếu mình thấy lỗi người, nói lỗi người thì mình là người
bất thiện, người ác; nếu thấy lỗi người mà không nói lỗi người, không bới móc
lỗi người khác là người thiện.
Câu hỏi
7:
Giới đức và giới hạnh phân biệt như thế
nào?
Đáp:
Muốn phân biệt giới đức và giới hạnh thì
nên phân biệt đức và hạnh. Đức là chỉ cho những tính thiện, còn hạnh chỉ cho
những oai nghi tế hạnh thuộc về hành động thiện. Cùng một danh từ đạo đức, có
lúc ta gọi là đức, có lúc ta gọi là hạnh, do sự công dụng đạo đức lúc ở đức hay
lúc ở hạnh mà gọi; do sử dụng danh từ đạo đức lúc dùng làm chủ từ thì gọi là
Đức; lúc dùng làm động từ thì gọi là Hạnh. Cho nên phân biệt giới đức và giới
hạnh đòi hỏi chúng ta phải có tri kiến thấm nhuần đức hạnh thì biết lúc nào là
đức và lúc nào là hạnh. Cho nên chúng ta càng học đạo đức thì càng thấm nhuần.
Ví dụ 1: “Thương người như thể thương
thân”, câu này dạy Đức Hiếu Sinh khẩu hành...
Ví dụ 2: Chúng ta nên thương yêu mọi
người vì mọi người quá đau khổ trong cơn bão số 9 vừa qua. Câu này dạy Đức Hiếu
Sinh khẩu hành...
Hai câu trên là lời kêu gọi nên nó mang
tính chất đạo đức, nên gọi là Đức.
Ví dụ 3: Chúng ta đem thực phẩm, quần áo
cứu trợ cho đồng bào bị hỏa hoạn tại chợ Quy Nhơn. Câu này dạy Hạnh Hiếu Sinh
thân hành.
Tại sao câu này gọi là Hạnh Hiếu Sinh?
Vì đó là hành động đi cứu trợ.
Câu hỏi
8:
Nằm giường cao là sao? Trong phòng con
có cái giường, khi con ngồi lên thì “hổng chân”, vậy thì có phải gọi là cao
không Thầy?
Đáp:
Để biết giường cao hay thấp, trong Giới
luật có dạy kích cỡ rõ ràng: Giường cao là giường làm cao hơn tám ngón Như Lai.
Mỗi ngón Như Lai bằng 1 tấc, vậy tám ngón Như Lai là tám tấc, giường làm cao
hơn tám tấc là giường cao, người tu sĩ không được nằm. Trong Giới luật, có
người dịch là tám lóng tay Như Lai, mỗi lóng tay 2 phân. Như vậy giường chỉ cao
có 1 tấc 6 phân. Giường cao có 1 tấc 6 thì không thể gọi là giường mà gọi là
phản. Cho nên theo Thầy nghĩ tám ngón Như Lai là đúng, còn tám lóng Như Lai là
sai.
Câu hỏi
9:
Xin Thầy cho con biết khi 2 người cúi
chào nhau, con thấy có người chào rất sâu (90 độ), có người (20 - 30 độ), còn
con chào nghiêng đầu 45 độ, vậy thì chào sâu là chào bao nhiêu độ vậy hả Thầy?
Đáp:
Chào nhau 45 độ là vừa.
Câu hỏi
10:
Xin Thầy chỉ dạy cho con hiểu rõ đoạn
văn cuối trong bài “Có sống đạo mới vui đời” có nghĩa là gì?
Đáp:
Đạo Phật lấy Giới luật đức hạnh làm cuộc
sống của mình, cho nên người nào sống Đạo đức Nhân Bản - Nhân Quả không làm khổ
mình khổ người và khổ tất cả chúng sinh thì cuộc đời họ mới có sự an vui chân
thật, vì thế câu kinh này dạy: “Có sống đạo mới vui đời”. Đạo đức là giới luật
đức hạnh.
Câu hỏi
11:
“Nhìn nhận sự tương quan sinh tồn, chí
nhân khổ cái khổ của người, vui cái vui của muôn loài, nên lợi người trước
mình. Cái vui này là cái vui vô lượng”.
Theo con hiểu khi thấy ai khổ mình cố
gắng giúp người ta hết khổ trước và khi thấy ai vui thì lúc đó mình mới vui,
nghĩa là chỉ nên nghĩ đến người trước. Tâm mình đã thanh thản rồi, bất động rồi
thì đâu còn vui buồn gì nữa, nhưng mình lấy các đối tượng khổ vui của người
khác để sống hòa đồng biết thương yêu người, giúp đỡ họ và an vui với họ. Có
sống với người, tạo thêm niềm vui cho người cho mình thì cuộc sống thêm vui chứ
sao phải không Thầy? Đâu phải nói là tu xong rồi không còn biết vui buồn gì nữa
thì có lẽ trở thành cây đá rồi. Xin Thầy giải thích rõ cho con thêm.
Đáp:
Đúng! Con nói rất đúng. Người tu sĩ Phật
giáo thấy cái ác, cái khổ của người liền tìm cách khuyên ngăn đừng làm ác và
giúp cho người thoát khổ, để đem lại cho người nguồn vui hạnh phúc, chứ không
làm cho người khổ hoặc bới móc chuyện xấu của người, hoặc nói xấu hoặc nói thêu
dệt, thêm bớt hoặc nói ly gián v.v... Cho nên người tu sĩ Phật giáo lấy cái vui
của người và lấy cái thiện để chuyển hóa cái khổ của người để làm nguồn vui
chung cho mình, cho người. Người tu sĩ Phật giáo không có cái vui riêng cho
mình. Vì vui buồn đối với người tu sĩ Phật giáo chỉ là pháp vô thường nên chẳng
vui cũng chẳng buồn, lúc nào thân tâm cũng thanh thản, an lạc và vô sự mà thôi.
Câu hỏi
12:
Vì Phật dạy không làm khổ mình, khổ
người. Khi mình hy sinh cứu người và cứu vật, bị tật nguyền hay hy sinh mà
không muốn làm khổ mình thì mình phải quán xét làm sao?
Đáp:
Người tu sĩ Phật giáo đã biết thân, thọ,
tâm và pháp là vô thường, không có cái nào là ta, là của ta, là bản ngã của ta
thì hy sinh giúp người thoát khổ, thoát chết, nhưng tâm vẫn bất động. Mà tâm
bất động thì thân này có chết, có tật nguyền, có sao đi nữa thì họ có buồn khổ
đâu. Cho nên họ dám xông pha vào lửa đỏ, vào sóng to lũ lụt để cứu người mà
không hề sợ hiểm nguy đến tính mạng của mình như những câu chuyện: Vết thẹo của
người mẹ, Con chim ưng của Thành Cát Tư Hãn, và cái chết thản nhiên của cô gái
Evin trong chiếc tàu từ từ chìm xuống đáy biển mang theo cô... Khi quán xét các
pháp vô thường thì vết thẹo trên gương mặt của người mẹ, cái chết của con chim
ưng và cái chết của cô Evin thì đâu có nghĩa gì nữa. Còn những người không hiểu
các pháp vô thường thì cho đó là làm khổ mình, nhưng khi họ hiểu các pháp vô
thường, vô ngã thì tâm họ bất động. Tâm họ bất động thì cái thọ khổ không tác
động vào tinh thần sắt đá của họ.
Tu hành muốn đạt được chỗ tâm bất động
không phải dễ, nhất là khi chúng ta đứng trước các loại cảm thọ của thân mà tâm
bất động, đó là một loại Thiền định xả cảm thọ thì tâm mới bất động dễ dàng.
Chỗ này nói thì dễ nhưng tu tập cho đúng pháp mới đạt được.
Tâm bất động có hai phần:
- Tâm bất động thuộc về tâm do tri kiến
giới luật đức hạnh.
- Tâm bất động thuộc về thân do tri kiến
tỉnh thức Định Tứ Thiền.
Nhờ nhập vào Tứ Thiền, sức định lực của
Tứ Thiền quét sạch các cảm thọ nên tâm không còn cảm nhận thọ khổ, vì thế tâm
mới bất động dễ dàng.
Còn có một tâm bất động, đó là ý chí
ngút ngàn xem thường các cảm thọ, mặc dù tâm chưa có Thiền định nhưng nhờ Tín
lực “chết bỏ” không sợ các cảm thọ nên thản nhiên trước sự đau đớn tận cùng của
sức chịu đựng bản thân.
Câu hỏi
13:
Phải chăng mình nghĩ rằng mình rất tự
hào về những điều mình đã làm, không hối tiếc, không coi trọng cái thân này. Dù
cho cái thân có tàn tật thì cũng không sao. Nhưng nếu cái thân này bị tàn tật
do cứu người mà làm khổ gia đình mình phải chăm sóc cho mình thì mình lại làm
khổ người thân của mình, vậy thì làm sao đây? Xin Thầy chỉ dạy rõ cho con biết.
Vì Đức Phật nói “phải hùng lực cứu người, cứu vật”. Vậy trước khi cứu người cứu
vật có phải tư duy suy nghĩ hay không?
Đáp:
Người tu sĩ Phật giáo bao giờ cũng trang
bị tri kiến hiểu biết của mình đầy đủ, để khi lâm trận chỉ còn chiến đấu và
giành phần thắng về mình... Như quý vị đã biết: Lớp học Giới luật đức hạnh là
lớp trang bị kiến thức không những để học những bài học và còn áp dụng những
bài học đạo đức đó vào đời sống hàng ngày để khi hữu sự tức là có sự việc xảy
ra là tự ứng phó một cách tự nhiên tức là phản xạ tự nhiên, chứ không cần phải
quán xét suy tư, vì quán xét suy tư thì quá chậm.
Trang bị đức hiếu sinh cho các con, khi
các con hy sinh cứu người, thân các con có tàn tật hay nằm bệnh viện, những
người thân có nuôi các con, có giúp đỡ cho các con bất cứ sự nặng nhọc nào thì họ
cũng vui sướng có người con hay người thân có tâm hồn yêu thương cao cả, biết
hy sinh vì mọi người; tuy cơ thể có các cảm thọ khổ, song tinh thần các con
hạnh phúc vô cùng. Một cháu bé 13 tuổi cứu thoát 11 người chết đuối. Một chàng
thanh niên xông vào lửa đỏ cứu 6 người thoát chết thiêu, chàng bị phỏng nặng
nhưng tinh thần chàng rất hạnh phúc và mọi người ai cũng quý trọng. Trong thời
gian chữa trị, mọi chi phí thuốc men chàng đều được mọi người lo lắng đầy đủ.
Làm việc thiện trong hoàn cảnh nào cũng
có đầy đủ phước báo, cho nên nhân nào quả nấy, chúng ta cứ hành thiện, cứ
thương yêu mọi người rồi mọi người sẽ thương yêu chúng ta.
IV. BỔ TÚC SƠ ĐỒ ĐƯỜNG LỐI TU TẬP
Trong bài giảng vừa rồi, Thầy dạy các con phải tự hệ thống
đường lối tu tập, từ dễ đến khó, từ bắt đầu đến cuối cùng, từ sự tu phụ đến sự
tu chính, đâu đâu phải rõ ràng. Nhưng Thầy nghĩ rằng phải giúp các con, chứ
không thể để tự các con hệ thống hoàn chỉnh được
vì còn những điều chưa giảng dạy thì làm sao các con hệ thống được? Bây giờ Thầy
sẽ giúp và giảng lược Sơ Đồ Đường Lối Tu Tập.
Phần đầu mà các con đã học và đã được tu tập, còn những phần chi
tiết thêm thắt vào thì các con phải chịu khó động não, thiết lập phương án tu
hành cho phù hợp với cơ thể và tinh thần của các con, tức là tùy căn cơ của các
con.
Những vị sáng lập ra các tôn giáo, Phật là người Thầy duy nhất
không theo đuổi cái gì khác ngoài việc trở thành một con người trong sạch và
giản dị. Phật không xem mình là Thần Thánh, và Thượng Đế. Phật chỉ nhìn
mình là một con người như bao nhiêu con người khác. Vì thế, chúng ta chọn đạo
Phật là chọn sự thật của kiếp con người. Dù con đường tu hành theo đạo Phật có
khó khăn muôn vàn đến đâu, chúng ta cũng quyết tâm đeo đuổi cho đến cùng. Bởi,
tu theo Đạo Phật là phải có một công phu tu tập vĩ đại, phải biết tự răn mình,
phải biết tự sửa lỗi mình để được trở thành một con người trong sạch và giản
dị. Không phải sự tu hành này chỉ có đổi bằng sức lực và tinh thần, mà
còn phải đổi bằng máu và nước mắt
của chúng ta nữa. Tu tập theo Đạo
Phật, nếu không tôi luyện mình trong lửa đỏ, thì sự tu hành cũng chỉ là
một hình thức suông mà thôi.
Các con được về đây trui luyện, tu tập với Thầy và cô
Út Diệu Quang, nhất là phần cô Út Diệu Quang, chỉ thẳng đập mạnh, không nhân
nhượng một ai, hễ thấy ai nuôi ngã, chạy theo dục lạc, sống theo ác pháp, liền
đập thẳng tay những nhát búa như trời sấm
sét. Chỉ mong sao quý vị xa lìa bản ngã, tâm ham muốn và ác pháp để được một
tâm hồn an vui, thanh thản, để đi vào Thiền định vững chắc.
Cũng vì thế mà các con hôm nay mới nhận ra đường lối tu hành của
Đạo Phật vô cùng khó khăn vì học rồi áp dụng liền, áp dụng rồi học liền ngay
trên cuộc sống, không có giờ phút nào không tu, không học; tu bằng cách sống,
sống bằng cách tu; tu bằng học, học bằng sự sống; sống bằng sự triển khai trí
tuệ thông minh của mình. Thầy giảng trạch, an ủi, sách tấn, khuyên bảo, v.v..
Cô Út Diệu Quang thì gợi lên, chỉ thẳng chỗ sai, chỗ đúng, phạt dạy, răn
đe, la hét, v.v.. Cho nên tu hành không giản dị
như người ta nghĩ. Nếu các con chỉ cần để ý một chút thì thấy
những gì Thầy và cô Diệu Quang chỉ dạy rất thiết thực, cụ thể con đường giải
thoát của Đạo Phật. Các con càng suy ngẫm càng thấm thía cuộc đời do chính mình
lầm lạc, tạo ra biết bao điều cay đắng, khổ đau cho mình. Càng suy ngẫm, càng
thấm thía cuộc đời, chừng đó mới biết được mình, hiểu được người rõ hơn.
Khi các con đã quyết
tâm tu hành, không sợ gian nan, khó khổ thì không những Thầy và cô Út Diệu
Quang sẵn lòng giúp đỡ, chỉ dạy tận tình, mà còn đem hết lòng thương yêu, vì cảm
thông đường tu hành khó khăn vô cùng, để cùng sống, để cùng nhau cùng xây dựng
lại ngôi nhà Phật pháp mà chúng ta
là những đứa con phải có bổn
phận.
Hệ thống con đường tu tập Giới - Định - Tuệ của Đạo Phật chia ra làm 42
giai đoạn tu tập. Trong mỗi giai đoạn tu tập có nhiều cách thức tập luyện, rèn
luyện không đơn giản như lý luận và thuyết giảng suông trong các kinh sách.
Giai
đoạn 1:
Phải luôn luôn cảnh giác, dẫn
tâm vào đạo, đừng dẫn đạo vào tâm.
Giai
đoạn 2:
Dẫn tâm vào đạo bằng cách sống lập ba đức, ba hạnh.
- Ba hạnh là: Ăn, Ngủ, Độc cư.
- Ba đức là: Nhẫn nhục, Tuỳ thuận, Bằng lòng.
Giai
đoạn 3:
Ba đức, ba hạnh này là phương tiện tu tập sống ly dục, ly bất thiện pháp.
Giải
đoạn 4:
Chỉ có tâm ly dục, ly bất thiện pháp mới hiểu được mình, được người bằng Chánh
kiến.
Giai
đoạn 5:
Hiểu được mình, được người bằng Chánh kiến thì mới hiểu được Phật Pháp chân
chính.
Giai
đoạn 6:
Hiểu được Phật Pháp chân chính là tâm thường ở trong Chánh niệm.
Giai
đoạn 7:
Tâm thường ở trong Chánh niệm là tâm Tỉnh giác.
Giai
đoạn 8:
Tâm tỉnh giác là tâm sáng suốt và bình tĩnh.
Giai
đoạn 9: Tâm sáng suốt và bình tĩnh là
tâm chủ động điều khiển nhân quả thân, khẩu, ý.
Giai
đoạn 10:
Tâm chủ động điều khiển nhân quả thân khẩu ý là tâm không còn tham, sân, si.
Giai
đoạn 11:
Tâm không còn tham, sân, si là tâm hết chướng ngại.
Giai
đoạn 12:
Tâm hết chướng ngại là tâm giải thoát tâm.
Giai
đoạn 13: Giải thoát tâm là tâm thanh thản.
Giai đoạn 14: Tâm thanh thản là tâm ly dục,
ly bất thiện pháp.
Giai
đoạn 15: Tâm ly dục, ly bất thiện pháp
là tâm nhập Sơ Thiền.
Giai
đoạn 16:
Tâm nhập Sơ Thiền là tâm ly ý muốn và diệt Tầm ác.
Giai đoạn 17: Tâm ly ý muốn và diệt Tầm ác
là tâm thanh tịnh.
Giai
đoạn 18:
Tâm thường thanh tịnh là tâm tuỳ tức.
Giai
đoạn 19:
Tâm tùy tức là tâm diệt Tầm thiện.
Giai
đoạn 20: Tâm diệt Tầm thiện là
tâm dừng được sáu thức.
Giai
đoạn 21:
Tâm dừng được sáu thức là tâm diệt Tứ.
Giai
đoạn 22: Tâm diệt Tứ là tâm nhập Nhị Thiền
Giai
đoạn 23:
Tâm nhập Nhị Thiền là tâm chủ động điều khiển sáu Thức.
Giai
đoạn 24: Tâm chủ động điều khiển sáu
Thức là tâm đóng mở sáu Căn.
Giai
đoạn 25:
Tâm đóng mở sáu Căn là tâm chủ động điều khiển Sắc ấm.
Giai
đoạn 26:
Tâm chủ động điều khiển Sắc ấm là tâm điều khiển vượt qua sáu trạng thái Tưởng
ấm: sắc tưởng, thinh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng.
Giai
đoạn 27:
Tâm điều khiển vượt qua sáu trạng thái Tưởng ấm là tâm xả Hỷ.
Giai
đoạn 28:
Tâm xả Hỷ là tâm xả tưởng ấm, hết chiêm bao.
Giai
đoạn 29: Tâm xả tưởng ấm là tâm nhập Tam Thiền.
Giai
đoạn 30:
Tâm nhập Tam Thiền là tâm điều khiển xả Thọ ấm.
Giai
đoạn 31:
Tâm điều khiển xả Thọ ấm là tâm có nội lực.
Giai
đoạn 32:
Tâm có nội lực là tâm chủ động điều khiển Thọ ấm.
Giai
đoạn 33:
Tâm chủ động điều khiển Thọ ấm là tâm có Định lực.
Giai
đoạn 34:
Tâm có Định lực là tâm xả Thọ ấm.
Giai
đoạn 35:
Tâm xả thọ ấm là tâm điều khiển Thức ấm.
Giai
đoạn 36:
Tâm chủ động điều khiển Thức ấm là tâm xả Hành ấm.
Giai
đoạn 37: Tâm
xả Hành ấm là tâm nhập Tứ Thiền.
Giai
đoạn 38:
Tâm nhập Tứ Thiền là tâm xả Thức ấm.
Giai
đoạn 39:
Tâm xả Thức ấm là điều khiển chủ động hướng về Tam Minh.
Giai
đoạn 40: Tâm hướng về Tam Minh là tâm
nhập trí tuệ vô lậu.
Giai
đoạn 41:
Tâm nhập trí tuệ vô lậu là tâm nhập trí tuệ giải thoát.
Giai
đoạn 42:
Tâm nhập trí tuệ giải thoát là tâm chấm dứt đau khổ và sanh tử luân hồi.
Đây là “Sơ Đồ 42 Giai Đoạn Tu Tập” để giải quyết đời người,
chấm dứt đau khổ, sinh tử, và luân hồi. Thầy sẽ giảng trạch sự tu tập và rèn
luyện của từng giai đoạn. Giảng đến đâu thì các con sẽ tu tập đến đó. Tu được
giai đoạn đó, rồi Thầy sẽ giảng dạy giai đoạn khác.
V. GIAI
ĐOẠN I: dẫn tâm
vào đạo, đừng dẫn đạo vào tâm.
Đây là giai đoạn thứ nhất. Phải luôn luôn cảnh giác dẫn tâm vào đạo, đừng dẫn đạo
vào tâm. Câu
này dạy người mới bắt đầu tu tập thiền định theo đạo Phật phải đề phòng cảnh
giác, cẩn thận, không được đụng pháp môn nào tu theo pháp môn nấy, mà phải dè
dặt, chọn kỹ lưỡng pháp môn tu tập. Vì nếu đã lỡ tu tập pháp môn không đúng sẽ
trở thành thói quen và sửa lại, tu tập lại rất là khó khăn, và còn nhiều khi
không còn sửa lại được nữa.
Ví dụ, một
người tu lạc thiền, nhiếp tâm ức chế không đúng cách gây ra bệnh rối loạn thần
kinh, điên khùng, không còn tỉnh táo, do đó không thể sửa lại được nữa,
trở thành một phế
nhân tàn tật. Cũng như người tích lũy, học nhiều giáo lý đủ loại, người này
cũng không thể cứu chữa được, họ đã nuôi lớn bản ngã bằng trời. Đó là do huân tập sở tri chướng quá nhiều. Con đường tu tập giải
thoát của họ qua những kiến thức này đã chấm dứt đời tu của họ. Nếu một người
tu tập có thần thông bùa chú thì cũng khó sửa lại vì bản ngã, kiến chấp của họ
chết cứng trong lớp vỏ này. Nếu một người tu lạc vào Thiền định tưởng, có trạng thái khinh an,
hỷ lạc, người này cũng khó sửa lại và chết cứng trong lớp vỏ này.
Bởi vậy, ngay từ giai đoạn 1, Thầy đã nhắc nhở
các con phải luôn cảnh giác, nếu không cảnh giác tu hành sai, thì sẽ thành thói
quen lười biếng, mất hết nghị lực, khó tiến vào Định. Đó là những người mới tu
mà không được sự hướng dẫn cặn kẽ, tu tập theo ý muốn của mình, rồi sinh tâm
lười biếng làm tiêu hao nghị lực, và đồng thời thường lạc vào những trạng thái của định tưởng,
khiến cho đời tu chẳng đi đến đâu.
Tu hành phải biết giờ giấc nghiêm chỉnh, giờ nào việc ấy.
Đó là phải luôn luôn cảnh giác: Giữ
gìn tâm bất động, chuyên ròng một hơi thở, không được xen tạp niệm.
Đó là phải luôn luôn cảnh giác: Khi tọa thiền, phải giữ thân bất
động, không được nhúc
nhích, lắc qua lắc lại; không
được ngồi thẳng quá (ưỡn ngực), không được ngồi chùn quá (khòm lưng).
Đó cũng phải là luôn luôn cảnh giác:
- Không được huân tập, học nhiều các pháp không đúng Phật
Pháp.
- Không được học lối lý luận, hý luận của các pháp, mà phải học
pháp chuyên ròng, tập luyện làm chủ thân tâm.
- Không được học pháp ở đầu môi chót lưỡi, cật vấn thiên
hạ, tranh chấp hơn thua để nuôi lớn bản ngã.
Các con phải luôn luôn đề cao cảnh giác những loại này. Và luôn
luôn các con hãy bắt chước Phật, khi có một tà sư ngoại đạo đến cật vấn,
hỏi đúng đường đường lối tu tập giải thoát thì Phật trả lời, hỏi không đúng
đường lối tu tập giải thoát thì Phật không đáp, hoặc làm thinh, hoặc trả
lời: “Đó không phải
là vấn đề của Ta, không phải là đường lối của Ta”. Đức Phật
không để thì giờ hý luận, tranh đua với thiên hạ vô ích. Vậy từ đây về sau các
con hãy bắt chước Phật, có ai hỏi đạo mà có lòng tha thiết cầu pháp tu tập,
kính trọng thưa hỏi với một tâm thành thì các con hãy chỉ dạy. Còn những hạng
người hiu hiu tự đắc, cật vấn, hỏi điều này thế kia thì quý vị sáng suốt nên
làm thinh, hoặc bảo: “Những
điều quý vị hỏi không đúng cách thức tu tập ở đây, chúng tôi xin miễn nói vì ở
đây chỉ biết tu tập để được giải thoát khổ đau, chứ không tranh luận hơn thua.
Xin quý vị vui lòng”.
Đó là phải luôn luôn cảnh giác đối với những hạng người
này.
Khi thưa hỏi pháp tu, không được đòi hỏi giải thích vì giải
thích sẽ làm mất trí vô sư của các con. Người giải thích cho dễ hiểu là Giảng
sư, người không giải thích là Thiền sư. Tuỳ ở người thiện hữu tri thức, khi họ
cần giải thích thì giải thích, không cần thì không giải thích. Thiện hữu phải
linh động, khéo léo, lúc đóng, lúc mở. Lúc đóng là để cho đệ tử khai triển trí
tuệ, lúc mở là để khuyến khích, khích lệ, sách tấn cho đệ tử nỗ lực tu tập.
Những điều này luôn luôn phải cảnh giác.
Tập ít nói, không nói chuyện tào lao, không đến chuyện người này
người khác. Luôn luôn giữ tâm thanh thản, và hướng tâm đến thanh thản. Đó là
phải luôn luôn cảnh giác.
Thường sống thơ thẩn một mình và hướng tâm đến sống độc cư một
mình. Luôn giữ tâm vô sự và hướng tâm đến vô sự. Đó là phải luôn luôn cảnh
giác.
Thường giữ gìn ý tứ làm mọi công việc cũng như tiếp xúc với mọi
người. Nên dè dặt, cẩn thận từng lời nói, hành động. Luôn luôn phải giữ gìn, ôn
tồn, nhã nhặn, êm dịu, từ ái. Những hành động này phải luôn cảnh giác.
Nhờ có luôn cảnh giác, giữ gìn tâm tu tập như vậy là thì đó gọi
là dẫn tâm vào đạo. Nhờ có thường xuyên dẫn tâm vào đạo nên tâm ly dục, ly bất
thiện pháp, tâm được giải thoát, an vui, thanh thản.
Vậy từ đây, các con phải nỗ lực tu tập hằng ngày, thường xuyên không nên gián đoạn. Lúc nào, giờ
nào, ngày nào, tháng nào, năm nào, đều phải cảnh giác giữ gìn tâm, dẫn tâm vào
đạo. Có như vậy mới mong ly dục, ly ác pháp được.
Như các con đã biết trong lần chuyển pháp luân lần đầu tiên, đức Phật thuyết về Tứ Diệu Đế,
nguyên nhân đau khổ của con người là tâm ái dục. Ai dục là gì? Ái dục là lòng
tham muốn, ưa thích, say đắm, đam mê. Vậy muốn xa lìa nó thì phải luôn luôn dẫn tâm vào đạo, đừng dẫn đạo
vào tâm.
Đừng
dẫn đạo vào tâm như thế nào? Dẫn đạo vào tâm là nghe nhiều, học nhiều kinh
sách mà không có thực hành, hoặc có thực hành thì cũng chỉ là hình thức, lấy
lệ. Càng học nhiều, càng nghe nhiều bản ngã càng to lớn thì tâm tham danh,
thích lợi càng nhiều, nên làm bít mất đường lối tu tập của họ. Cho nên suốt đời
họ chẳng có sự giải thoát mà chỉ có sự đam mê. Bởi vậy, Thầy dạy đừng dẫn đạo
vào tâm là vậy. Cô Diệu Quang dạy không chịu giải thích cho các con mà phải tự
các con tìm cách xả ngã, diệt tâm ham muốn của mình và cũng từ đó tự triển khai
trí tuệ thông minh vô sư, của tư tuệ.
Phần nhiều ngày nay người ta dẫn đạo
vào tâm, ít có ai biết cách dẫn tâm vào đạo. Trong
kinh Nguyên Thủy, Phật dạy Như Lý Tác Ý đó là dẫn tâm vào đạo. Trong
kinh Tiểu Thừa, Phật dạy Pháp Hướng Tâm, tức là pháp dẫn tâm.
Xưa đức Phật còn tại thế
không có cho ghi chép kinh sách chỉ vì
sợ các đệ tử của mình dẫn đạo
vào tâm, nên Ngài chỉ nói để cho tu tập, mà không cho ghi chép lại, đến sau này, kết tập mới có có
kinh sách. Nhưng cũng từ khi có kinh sách thì người ta khó chứng đạo chỉ vì họ đã dẫn đạo vào tâm quá nhiều. Rồi
phát triển những kiến giải, tưởng giải, viết rất nhiều kinh sách, làm lệch lạc
con đường của Đạo Phật. Đạo Phật bây giờ là Đạo Phật triết lý, Đạo Phật mê
tín, Đạo Phật khoa học, Đạo Phật siêu việt,.. Không có một tôn giáo nào
hơn được Đạo Phật! Theo Thầy, thiết nghĩ Đạo Phật không có triết lý, không có
mê tín, không có khoa học, không có siêu việt,.. Đạo Phật chỉ thuần
là đạo của con người như bao nhiêu con người khác trong thế gian này. Nhưng
người đó phải biết sống một đời sống an vui, sống không làm khổ mình - khổ
người, sống thanh thản trước những diễn biến của nhân quả, và luôn luôn lúc nào
cũng làm chủ được nhân quả.
Khi nghe đến đây, các con hãy cố gắng tu tập, khắc phục tâm mình
cho được. Chừng nào khắc phục được Thầy sẽ giảng tiếp.
VI: TÂM THƯ CỦA THẦY
TÂM THƯ GỬI
QUÝ CƯ SĨ
Chơn Như,
ngày 28 - 4 - 2000
Kính gửi: Quý
cư sĩ.
Hôm nay Thầy
đã nhuận xong tập sách “Thiền Căn Bản”. Cách đây bốn năm Thầy đã giảng dạy
thiền nhưng chẳng mấy người biết. Do sợ nội dung khác ý với kinh sách phát
triển có thể làm buồn lòng Thầy Tổ của mình, nên Thầy không cho lưu hành rộng
rãi. Cho tới gần đây, Thầy nhận được một băng trên mạng toàn cầu từ một quý cư
sĩ có nhiệt tâm muốn làm sống lại Thiền Định của Đạo Phật mà lâu tín đồ Phật
Giáo lại xem thường, cho nó là Thiền Phàm Phu, Tiểu Thừa, ngoại đạo thiền...
Sau khi nhuận
xong Thầy nhờ cô Châu đưa lên mạng để quý cư sĩ mọi nơi trên toàn cầu nhận được
và “tuỳ ý in thành sách” để trợ giúp
cho những ai quyết chí tu hành theo Thiền Định của Phật Giáo Nguyên Thuỷ.
Nguyện ước
mong sao quý cư sĩ gặp được pháp bảo này áp dụng thực hiện có kết quả ngay liền
trong cuộc sống hàng ngày để minh chứng giáo pháp của đức
Phật không lừa đảo dối người, vì có tu đúng mới có kết quả giải thoát, sống
đúng một đời sống đức hạnh làm người, không làm khổ mình khổ người và khổ tất
cả chúng sinh, đây là sự giải thoát chân thật của Đạo Phật.
Nếu cuộc sống
hàng ngày không kiểm soát được và làm chủ được thân, miệng, ý của mình thì dù
có ngồi thiền hai, ba tháng hoặc niệm Phật nhất tâm bất loạn bảy, tám ngày mà
tâm tham, sân, si vẫn còn thì phỏng có ích lợi gì.
Thiền định
của Đạo Phật không khó mà khó là ở chỗ sống đúng Giới luật, Đức hạnh làm người
không làm khổ mình, khổ người, khổ cả hai. Vì thế khi mới vào đạo tu hành thì đức
Phật dạy: “Năm giới” và thường nhắc nhở chúng ta: “Chư ác mạc tác, chúng thiện
phụng hành”
hoặc khuyên răn: “Ngăn ác diệt ác pháp,
sanh thiện tăng trưởng thiện pháp”.
Những lời dạy
trên đây là những lời dạy đạo đức nhân bản làm người, không làm khổ mình khổ
người; những lời dạy này quá thiết thức và cụ thể lợi ích cho mình, cho người,
cho xã hội và cho loài người trên hành tinh này; nó mang đến cho con người một
hạnh phúc, an vui của kiếp sống làm người tuyệt vời, mà đức
Phật gọi là giải thoát. Cho nên Đạo Phật là đạo giải thoát là vậy. Có đúng
không quý vị?
Quý vị cư sĩ
cứ suy ngẫm những lời dạy trên đây trong kinh sách của đức
Phật có đúng đây là Thiền định của đức Phật
không? Nếu đúng có lợi ích thiết thực cho đời sống của quý vị và mọi người thì
quý vị tin, bằng ngược lại thì không nên tin. Tin hay không tin đều không sao
cả. Bởi vì tin là một điều cần phải hiểu rõ, phải thấy được lợi ích thiết thực
cụ thể cho đời sống, còn tin mà không hiểu rõ là tin mù quáng. Tin mù quáng
giống như người đi trong đêm tối, không đèn, không đuốc.
Cuối cùng
Thầy xin có lời thăm và chúc quý Phật tử được gặp nhiều may mắn trên đường tu
tập, hen gặp lại quý vị khi quý vị trở về thăm quê hương Tu viện Chơn Như, Thầy
có nhiều điều tâm sự và gửi gắm lại quý vị.

HẾT
No comments:
Post a Comment