Tuesday, May 19, 2020

VƯỢT QUA TAM GIỚI




- Dục giới: chỉ cho các lạc của thân, tham đắm 5 món dục trưởng dưỡng: sắc, thanh, hương, vị, xúc trên 5 căn: mắt, tai, mũi, miệng, thân.
- Sắc giới: chỉ cho tâm thức của ta. Tâm này hạnh phúc, khi mình sống đạo đức, nó tạo ra sự an vui hạnh phúc. Nếu mình còn chấp trước, đó là sắc tham kiết sử (gọi là sắc giới). Vị nào chứng được 4 thiền: sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, các ngài hưởng hạnh phúc an lạc của 4 thiền này cũng gọi là sắc giới (thiền hữu sắc).
- Vô sắc giới: chỉ cho 4 trạng thái hạnh phúc của thiền vô sắc: không vô biên xứ tưởng, thức vô biên xứ tưởng, vô sở hữu xứ tưởng, phi phi tưởng xứ tưởng. Khi tu thiền vô sắc thì nó diệt ý thức, không còn ý thức làm chủ, 6 căn mắt tai mũi miệng thân ý nó không còn nhận biết, nó hưởng thụ cảm giác hỉ lạc khinh an của vô sắc, gọi là thiền vô sắc. Khi mình hưởng thụ cảm giác khinh an hỉ lạc vô thức thì đó là vô sắc giới. Nếu mình còn tham chấp, hưởng thụ cảm giác khinh an hỉ lạc của thiền vô sắc thì mình còn sống trong vô sắc giới.
- Tâm thức mình có 2 phần hữu sắc và vô sắc: hữu sắc chỉ cho là 6 căn mình còn hiện hữu, mình đang sống bình thường mà tâm mình nó khinh an hỉ lạc, đó là sắc giới. Nếu mình còn chấp vào cái lạc này thì mình còn sống trong cõi trời sắc giới. Thí dụ mình tu, mình có đạo hạnh, trí tuệ, từ bi hỉ xả, tâm mình hạnh phúc lắm. Hàng ngày mình sống hạnh phúc với trạng thái đó. Nếu mình tham chấp nó, mình cho rằng hạnh phúc này của tôi, giải thoát này của tôi, từ bi này của tôi, nó còn tự ngã này thì đó là sắc giới. Sắc giới thuộc về tâm, về hạnh phúc của tâm.
- Còn dục giới nó chỉ cho các hạnh phúc của thân, thuộc về 5 món dục trưởng dưỡng: sắc thanh hương vị xúc. Thân mình hưởng thụ các cảm thọ lạc. Hàng ngày mình trưởng dưỡng các dục này gọi là dục giới, mình đang còn luân hồi trong cõi dục.
- Còn người có tâm thánh thiện đạo đức, họ sống hạnh phúc trên tâm thức của họ. Nếu họ không trở về trung đạo, xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh thì nó còn là sắc giới. Các vị chứng thiền định là các ngài xả cái đó. Đầu tiên chứng sơ thiền. Chứng sơ thiền có 5 quả: tầm, tứ, hỉ, lạc và nhất tâm. Để ngài trở về trạng thái Hiện tại lạc trú thì ngài phải xả 5 cái chi thiền này: tầm, tứ, hỉ, lạc và nhất tâm, không còn chấp trước nó thì ngài mới an trú vào trạng thái Niết bàn trung đạo.
Để ngài chứng nhị thiền thì ngài phải diệt tầm tứ, không có hoan hỉ chấp vào tri kiến của mình. Khi người ta có tầm tứ, người ta hoan hỉ trên cái tầm tứ đó, khi hoan hỉ thì người ta hay bị trạo cử, giống như mình có điều tốt gì hay đi khoe lắm. Con mình có điều gì tốt, gặp ai cũng khoe con tốt nó tốt lắm. Cái đó là trạo cử.
Còn trạo cử của thượng phần kiết sử là trạo cử của Thánh. Khi mình tu tập mình chứng đạt các quả vị cao, nó hoan hỉ trong pháp của nó. Nếu mình không có niệm xả, không hướng đến xả giác tri thì nó bị kẹt liền. Nó kẹt vào các thượng phần kiết sử liền: sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử và vô minh. Sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử và vô minh – thuộc về tâm thức của ta. Còn hạ phần kiết sử nó thuộc về thân này: sắc, thanh, hương, vị, xúc. Thí dụ người này trước đây thèm ăn cái gì, khi nó thèm rồi nó cứ thèm cái đó. Khi thèm thì bắt người này làm người kia làm ăn. Đó là trạo cử của dục thân.
Trạo cử là cái tâm không có định tĩnh, không có nhất tâm, không vô sự, không bất động. Người mà bất động, vô sự thì nó không có trạo cử những điều đó. Ai cho gì ăn nấy, đến giờ ăn thì đi ăn, ăn ngon dở thì mặc, không dính mắc. Tâm đó là bất động vô sự, nó không hữu sự chuyện ngon dở. Người diệt được cảm thọ dục của thân thì họ diệt được 5 triền cái tham, sân, hôn trầm, trạo cử và nghi. Nó còn ham thích điều gì chưa xả được là tham. Nó còn bất toại nguyện điều gì, đau khổ điều gì chưa xả được, cái đó là sân.
Người nào không còn 5 triền cái: tham, sân, hôn trầm, trạo cử và nghi, tâm người ta sáng lắm. Đến đây các dục của thân không còn. Tâm của người ta giải thoát rồi. Khi nó giải thoát rồi thì nó thường bị kẹt chấp vào sự giải thoát. Vì vậy mà nó trạo cử đi khoe khoang người này người kia tôi chứng thiền định này kia. Tâm đó là trạo cử. Cho nên người này chưa có bất động.
Người không thiện không ác, dù mình chứng cái gì thì xả luôn. Dù mình có chứng được sơ thiền, có tầm tứ, khinh an, hỉ lạc, định tĩnh nhưng mình không chấp, phải xả nó luôn. Cho nên trong thiền chứng thứ 4 Phật dạy tỳ kheo xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh. Ngay cả cái niệm thanh tịnh, niệm giải thoát, niệm không phiền não cũng xả luôn không có chấp trước. Tâm đó mới gọi là không thiện. Tâm đó mới gọi là Diệt đế, Niết bàn. Vì vậy Phật nói vô thủ chấp trước Niết bàn là như vậy.
Mình không có chấp cái thành quả tu tập của mình, sự giải thoát của mình, mình phải trở về trạng thái trung đạo, không thiện không ác, gọi là bất lạc bất khổ, xả niệm thanh tịnh. Đến đây các ngài dẫn tâm về trạng thái Hiện tại lạc trú giải thoát niết bàn, không còn chấp gì cả thì tâm đó là bất tử, luân hồi chấm dứt.

Nguồn: Bạn Phuong Nguyen đánh máy lại lời bài giảng Thầy Bảo Nguyên.

Wednesday, April 29, 2020

Kinh Nhất dạ hiền giả


Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà lâm), tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". --"Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

-- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng cho các Ông: 'Nhứt Dạ Hiền Giả' (Bhaddekaratta), tổng thuyết và biệt thuyết. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ thuyết giảng.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau:

Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng. 

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là truy tìm quá khứ? 

Vị ấy nghĩ: "Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là tưởng của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là hành của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy, "Như vậy, là thức của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là truy tìm quá khứ.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: "Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là tưởng của tôi... Như vậy là hành của tôi... Như vậy là thức của tôi trong quá khứ"; và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không truy tìm quá khứ.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: "Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy là tưởng của tôi... là hành của tôi... là thức của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là ước vọng trong tương lai.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: "Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là tưởng... sẽ là hành... sẽ là thức của tôi trong tương lai", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không ước vọng trong tương lai.

Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu không đi đến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không đi đến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán sắc là tự ngã, hay quán tự ngã là có sắc, hay quán sắc là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong sắc; hay vị ấy quán thọ là tự ngã, hay quán tự ngã là có thọ, hay quán thọ là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thọ; hay vị ấy quán tưởng là tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng, hay vị ấy quán tưởng là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong tưởng; hay vị ấy quán hành là tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là có hành, hay vị ấy quán hành là trong tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là trong hành; hay vị ấy quán thức là tự ngã, hay quán tự ngã là có thức, hay quán thức là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thức. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị Ða văn Thánh đệ tử đi đến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân. Vị này không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc là trong tự ngã, không quán tự ngã trong sắc; không quán thọ... không quán tưởng... không quán hành... không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã là có thức, không quán thức trong tự ngã, không quán tự ngã trong thức. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.

Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.


Khi ta nói: "Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông: 'Nhứt Dạ Hiền Giả', tổng thuyết và biệt thuyết", chính duyên ở đây mà nói vậy.


Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Friday, April 10, 2020

THIỀN XẢ TÂM



Sau khi chứng đạt đạo quả giải thoát, Đức Phật đã lấy kinh nghiệm tu tập của Người dựng thành lộ trình tu tập Giới, Định, Tuệ. Nhờ lộ trình tu tập này đã giúp các Thánh đệ tử của Phật chứng đạt chân lý, thành tựu quả vị A-la-hán, giải thoát hoàn toàn.
Giới luật, đức hạnh là nền tảng vững chắc, giúp hành giả tu tập diệt ngã, xả tâm, ly dục, ly ác pháp, chứng đạt tâm vô lậu tức là tâm không còn tham, sân, si nữa. Khi tâm không còn tham, sân, si thì tâm thanh tịnh, thanh tịnh là thiền định.
Vì vậy thiền định của đạo Phật nhắm vào đời sống thể hiện đức hạnh một cách nghiêm chỉnh để không phạm một lỗi nhỏ nhặt, để ly dục, ly bất thiện pháp.
Để sống đúng giới luật thì chúng ta phải thông hiểu bát chánh đạo.
Sự tu tập giải thoát của đạo Phật không phải như từ nào giờ chúng ta hiểu phải tu vô lượng kiếp. Giáo pháp của đức Phật là chân lý, là sự thật. Khi được hiểu và tu tập theo giáo pháp của người thì ngay trong hiện tại chúng ta sẽ có được giá trị hạnh phúc an lạc, đó là giải thoát. Pháp của đức Phật khi tu tập sẽ đoạn dứt dần các lậu hoặc tham, sân, si, mạn, nghi thì tâm được thanh tịnh. Thân tâm được thanh tịnh là trạng thái tâm vô lậu giải thoát.
Nếu trong tâm ta còn lậu hoặc thì thân tâm không thể thanh tịnh được. Ví dụ: Khi ta đói bụng thèm ăn cái này, cái kia, hoặc khi nghe những điều trái ý nghịch lòng chúng ta lo lắng sợ hãi, phiền não, nếu còn những việc này thì lậu hoặc còn, như vậy thân tâm chưa thanh tịnh và chưa giải thoát được.
Do đó khi tu đúng pháp của Phật dạy thì nghiệp quả của thân không còn ý nghĩa gì cả, vì chuyển nghiệp quả khổ thành nghiệp quả phước báo, nên thảnh thơi, an lạc, vô sự, còn tu sai pháp thì muôn đời nghìn kiếp nghiệp thân cứ tiếp tục mãi tái sinh luân hồi và phải chịu đựng thọ khổ vô lượng kiếp.
Thiền xả tâm giúp chúng ta có tiến bộ trong tu tập, tiến bộ từng phút, từng giây, từng giờ, từng ngày, chúng ta nhận thấy tâm thanh thản, an lạc và vô sự rất rõ ràng.
Để được xả tâm tốt thì phải giữ gìn giới luật đức hạnh thật nghiêm chỉnh. Giới luật, đức hạnh là thiện pháp vô lậu.
Đức Phật dạy: Muốn ước nguyện cầu một việc gì thì phải giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh thì ước nguyện ấy sẽ thành tựu.
Người phật tử tu tập Tứ chánh cần để ngăn ác, diệt ác pháp, sanh thiện, tăng trưởng thiện pháp. Phải phân biệt tăng trưởng thiện pháp vô lậu khác với thiện pháp hữu lậu.
Phân tích câu: “Ly dục ly ác pháp”:
§  Dục là lòng ham muốn đưa đến đắm nhiễm: danh, lợi, sắc, thực, thùy.
§  Ác pháp là trạng thái tâm phiền não như: ích kỷ, giận hờn, hơn thua, nhỏ mọn, tham lam, tự ái, nghi ngờ…
§  Để ly các dục này phải dùng tri kiến giải thoát (định vô lậu) để tu tập.
Phật dạy các pháp thế gian là vô thường:
§  Thân người là do nhân quả sinh ra. Sinh ra từ nhân quả, chết cũng về với nhân quả.
§  Để giúp tâm mình xả bỏ ham muốn vật chất thế gian, hằng ngày chúng ta dùng pháp hướng tâm xả bỏ tâm đắm nhiễm. Ví dụ: Tâm khởi muốn tiền nhiều, nhà cửa sang trọng, xe hơi, vàng bạc, giàu sang…Mỗi khi tâm đối diện với vật chất ấy thì chúng ta biết nó là pháp vô thường, là khổ.
§  Chỉ có đạo đức vô ngã, xả ly lòng ham muốn thì mới bảo vệ cho ước nguyện giải thoát của mình.
§  Hằng ngày biết sửa sai những lỗi lầm của mình.
§  Biết ngăn chặn  không làm những điều ác.
§  Biết xa lìa những cám dỗ vật chất thế gian.
§  Biết tiết độ trong ăn uống ngủ nghỉ.
§  Biết thiểu dục tri túc đối với đời sống.
§  Biết phòng hộ mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý của mình, biết giữ chánh niệm để tâm được thanh thản, an lạc và vô sự.
Trưởng Lão THÍCH THÔNG LẠC:
…Tóm lại chỉ có hằng giây, hằng phút, hằng giờ, hằng tháng, hằng năm, lúc nào, thời gian nào đều phải quan sát trên bốn chỗ thân, thọ, tâm, pháp để đẩy lui các chướng ngại pháp trên đó, để bảo vệ chân lý. Khi nào các chướng ngại pháp không còn tác động đến bốn chỗ thân, thọ, tâm, pháp là con đã thành tựu viên mãn sự tu hành của con. Chừng đó con đã chứng đạt chân lý nghĩa là lúc nào con cũng sống với tâm bất động mà không một chướng ngại pháp nào tác động được. Đến đây con đường tu tập của con đã hoàn thành: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành. Không còn trở lui lại trạng thái này nữa”.
Thầy Thích Bảo Nguyên